Ba điều kiện của thỏa thuận trọng tài để giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại

Ba điều kiện của thỏa thuận trọng tài để giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại

Câu hỏi

Hiện nay, phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan trọng tài là một trong những hình thức được khá nhiều doanh nghiệp lựa chọn do những ưu điểm của phương thức này, ví dụ: bảo mật, thủ tục nhanh và đơn giản… Vậy khi nào được giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại?

1. Cơ sở pháp lý

– Luật trọng tài thương mại năm 2010

2. Nội dung tư vấn:

Hiện nay, Việt Nam đã có những trung tâm trọng tài lớn chuyên giải quyết tranh chấp thương mại như: Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VIAC), trung tâm trọng tài quốc tế Thái Bình Dương (PIAC), …

Để giải quyết tranh chấp thương mại tại trọng tài thì các bên phải có thỏa thuận trọng tài. Theo quy định của luật trọng tài thương mại năm 2010 và Luật Mẫu về trọng tài thương mại quốc tế của Ủy ban liên hiệp quốc về luật thương mại quốc tế thì các bên có thỏa thuận trọng tài chỉ được giải quyết tại trọng tài khi thỏa thuận trọng tài có hiệu lực.

Điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài được quy định như sau:

2.1. Về hình thức:

Thỏa thuận trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn bản. Thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng.

Các hình thức thỏa thuận sau đây cũng được coi là xác lập dưới dạng văn bản:

+ Thoả thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;

+ Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên;

+ Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên;

+ Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác;

+ Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận.

2.2. Thỏa thuận trọng tài không nằm trong các trường hợp bị vô hiệu theo quy định tại Điều 18 Luật trọng tài thương mại:
– Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài là trường hợp thỏa thuận trọng tài được xác lập để giải quyết tranh chấp không thuộc lĩnh vực quy định tại Điều 2 Luật TTTM.

– Người xác lập thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật là người xác lập thỏa thuận trọng tài khi không phải là người đại diện theo pháp luật hoặc không phải là người được ủy quyền hợp pháp hoặc là người được ủy quyền hợp pháp nhưng vượt quá phạm vi được ủy quyền.

– Người xác lập thỏa thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Trong trường hợp này thì Tòa án cần thu thập chứng cứ để chứng minh người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự thì phải có giấy tờ tài liệu chứng minh ngày tháng năm sinh hoặc kết luận của cơ quan có thẩm quyền hoặc quyết định của Tòa án xác định, tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

– Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 Luật TTTM là trường hợp thỏa thuận trọng tài không được xác lập bằng một trong các hình thức quy định tại Điều 16 Luật TTTM và hướng dẫn tại Điều 7 Nghị quyết này.

– Một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài là trường hợp một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép theo quy định tại Điều 4, Điều 132 của Bộ luật dân sự.

– Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật là thỏa thuận thuộc trường hợp quy định tại Điều 123 của Bộ luật dân sự.

2.3. Thỏa thuận trọng tài không thuộc trường hợp không thể thực hiện được
Thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được là thỏa thuận trọng tài thuộc một trong các trường hợp sau đây:

– Các bên đã có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài cụ thể nhưng Trung tâm trọng tài này đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức trọng tài kế thừa, và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trung tâm trọng tài khác để giải quyết tranh chấp.

– Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà Trọng tài viên không thể tham gia giải quyết tranh chấp, hoặc Trung tâm trọng tài, Tòa án không thể tìm được Trọng tài viên như các bên thỏa thuận và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế.

– Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, Trọng tài viên từ chối việc được chỉ định hoặc Trung tâm trọng tài từ chối việc chỉ định Trọng tài viên và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế.

– Các bên có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài nhưng lại thỏa thuận áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác với Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm trọng tài đã thỏa thuận và điều lệ của Trung tâm trọng tài do các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp không cho phép áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác và các bên không thỏa thuận được về việc lựa chọn Quy tắc tố tụng trọng tài thay thế.

– Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng có điều khoản về thỏa thuận trọng tài được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn quy định tại Điều 17 Luật TTTM nhưng khi phát sinh tranh chấp, người tiêu dùng không đồng ý lựa chọn Trọng tài giải quyết tranh chấp.

Lưu ý: Thỏa thuận trọng tài phải ghi đúng tên, địa chỉ của trung tâm trọng tài để tránh trường hợp rơi vào trường hợp thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được.

Give a Comment