Bị chồng đánh phải nhập viện thì kết quả kiểm tra có được xem là căn cứ bạo hành vợ không? Có thể ly hôn được không?

Bị chồng đánh phải nhập viện thì kết quả kiểm tra có được xem là căn cứ bạo hành vợ không? Có thể ly hôn được không?

Câu hỏi

Chị gái em bị chồng đánh phải vào viện, vậy thủ tục nhập viện và kết quả kiểm tra có được xem là căn cứ chồng bạo hành vợ không ạ? Có thể ly hôn được không? Thủ tục thế nào ạ?

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Luật Hôn nhân gia đình năm 2014

2. Luật sư tư vấn:

Theo như thông tin bạn cung cấp, chị gái bạn bị chồng đánh phải vào viện. Do đó, hành vi anh rể bạn đánh chị gái bạn phải nhập viện được xem là hành vi bạo lực gia đình, theo đó, bằng chứng là thủ tục nhập viện và kết quả kiểm tra cũng được xem là bằng chứng chứng minh chồng chị gái bạn có hành vi bạo lực gia đình. Lúc này, chị gái bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề ly hôn đơn phương cho hai vợ chồng chị gái bạn theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

“Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.”

Mặc dù, thủ tục nhập viện và giấy xác nhận của bệnh viện được xem là bằng chứng chứng minh anh rể bạn có hành vi bạo lực gia đình thì phía chị gái của bạn cần chuẩn bị thêm những bằng chứng khác như băng ghi âm, ghi hình, hình ảnh, video hoặc có người xác nhận làm chứng hành vi bạo lực gia đình của anh rể thì lúc này Tòa án sẽ căn cứ vào những bằng chứng trên để giải quyết vấn đề ly hôn đơn phương cho chị gái của bạn.

Hồ sơ đơn phương xin ly hôn, chị bạn cần chuẩn bị những giấy tờ sau:

– Đơn đơn phương ly hôn: viết tay, đánh máy hoặc đến trực tiếp Tòa án xin mẫu đơn ly hôn;

– Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn bản chính;

– Bản sao sổ hộ khẩu của chị bạn có công chứng hoặc chứng thực;

– Bản sao Chứng minh nhân dân có công chứng hoặc chứng thực của người chồng;

– Bản sao giấy khai sinh của hai con có công chứng hoặc chứng thực;

– Giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất.

Sau đó, chị gái bạn có thể nộp hồ sơ tại Tòa án nhân dân cấp quận, huyện nơi chồng cư trú có thể là nơi đăng ký thường trú hoặc đăng ký tạm trú hoặc nơi làm việc theo quy định tạ Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Thủ tục giải quyết ly hôn đơn phương được thực hiện như sau:

Căn cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:

Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định Thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện:

“2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:

a) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;

b) Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này;

c) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;

d) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.”

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì thời hạn chuẩn bị xét xử ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn là 04 tháng. Trong thời gian chuẩn bị xét xử thì Thẩm phán được phân công xét xử vụ án sẽ tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Trong trường hợp hòa giải thành, Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo điều 212 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:

“Điều 212. Ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

1. Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.

2. Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.”

Trong trường hợp hòa giải không thành, Tòa án sẽ tiến thành thủ tục đưa vụ án ra xét xử. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, theo đó, Thẩm phán sẽ giải quyết như sau:

Như vậy, khi anh rể bạn được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, nhưng vắng mặt mà không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa (khoản 1 Điều 227);

Khi anh rể bạn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, mà không có yêu cầu phản tố, vắng mặt không có người đại diện tham gia phiên tòa thì tòa án vẫn xét xử vắng mặt họ (điểm b khoản 2 Điều 227); Trong đó, yêu cầu phản tố được hiểu là việc bị đơn khởi kiện lại nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Mục đích của yêu cầu phản tố là để bù trừ nghĩa vụ, khấu trừ nghĩa vụ hoặc loại trừ một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

Khi anh rể bạn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, có yêu cầu phản tố, mà vắng mặt thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp anh rể bạn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt (điểm c khoản 2 Điều 227);

Trong trường hợp, chị gái bạn là nguyên đơn khởi kiện vụ án mà vắng mặt tại phiên tòa mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó (điểm a khoản 2 Điều 227).

Give a Comment