Bố muốn ly hôn với mẹ sau 7 năm ngoại tình thì chia tài sản như thế nào?

Bố muốn ly hôn với mẹ sau 7 năm ngoại tình thì chia tài sản như thế nào?

Câu hỏi

Gia đình có 3 người con trai. Người bố làm ăn bên nước ngoài 7 năm tính đên nay, và suốt 7 năm đó ngoại tình và ko chu cấp tiền cho người mẹ nuôi con. Suốt những năm đó người mẹ phải gánh vác 1 mình kiếm tiền nuôi 3 đứa con, 2 đứa lớn đến nay đã ngoài 20 và 1 đứa nhỏ lên 4. Bây giờ người bố muốn ly hôn và chia tài sản

Nhưng người mẹ ko đồng ý và muốn người bố tự đơn phương ly hôn. Trong trường hợp này, xin hỏi luật sư, nếu người bố tự đơn phương ly hôn, và người mẹ ra tòa và ns rằng 1 mình nuôi các con bao năm nay nên muốn đc toàn bộ tài sản và đất đai còn lại và k muốn chia cho người bố đã bội bạc như vậy và các con làm chứng là bao năm mẹ nuôi 1 mình.

Vậy người mẹ có được thừa hưởng tài sản như vậy không ? Người mẹ muốn dành quyền nuôi con, và tiền trợ cấp của người bố đến khi 18t người mẹ muốn lấy luôn 1 lúc vì nghi ngờ người bố sẽ viện lí do để ko đóng tiền nuôi con, như vậy có đc ko

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, về vấn đề ly hôn và chia tài sản

Căn cứ theo quy định tại Luật hôn nhân gia đình 2014 thì khi bố, mẹ bạn ly hôn thì bố mẹ có quyền thỏa thuận với nhau về việc phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân. Nếu bố, mẹ bạn không thỏa thuận được vấn đề tài sản thì có quyền đưa ra Tòa án giải quyết trên cơ sở quy định của pháp luật. Cụ thể:

Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Theo đó, trên cơ sở quy định của pháp luật thì nguyên tắc phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân phụ thuộc vào chế độ tài sản của bố, mẹ bạn. Đối với những tài sản được hình thành trước thời kỳ hôn nhân, tài sản được thừa kế, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì tài sản đó được coi là tài sản riêng của bố hoặc mẹ bạn, khi giải quyết ly hôn một trong hai bên không có quyền yêu cầu phân chia tài sản này, trừ trường hợp hai bên thỏa thuận phân chia ( căn cứ theo quy định tại điều 43 Luật hôn nhân và gia đình 2014 về tài sản riêng). Còn trong trường hợp tài sản phân chia là tàn sản được xác lập trong thời kỳ hôn nhân, được thừa kế, tặng cho hai vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân… ( điều 33 luật hôn nhân và gia đình 2014) thì bố, mẹ bạn có quyền yêu cầu phân chia khi ly hôn.

Mặt khác, điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 cũng quy định cho tiết về nguyên tắc giải quyết phân chia tài sản khi ly hôn, theo đó, mẹ bạn có thể được xem xét chia phần giá trị nhiều hơn nếu mẹ bạn chứng minh về mức độ đóng góp trong việc xác lập tài sản, chứng minh đượ bố bạn có hành vi vi phạm nghĩa vụ vợ, chồng ( có hành vi ngoại tình, không giúp đỡ mẹ bạn chăm sóc, nuôi dưỡng các con.

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Thứ hai, về việc cấp dưỡng cho con

Theo quy định tại điều 82 Luật hôn nhân và gia đình thì người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con trên cơ sở thỏa thuận của bố, mẹ hoặc theo quyết định của Tòa án trên cơ sở khả năng tài chính của bố bạn và nhu cầu chi tiêu thực tế của các con. Cụ thể:

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Give a Comment