Bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra như thế nào ?

Bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra như thế nào ?

Câu hỏi

Bồi thường thiệt hại trong trường hợp do cán bộ, công chức, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra được quy định ra sao trong bộ luật dân sự. Phạm vi trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự và các trường hợp không được bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự được quy định như thế nào?

1. Cơ sở pháp lý:

– Bộ luật dân sự 2015

– Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2009 (sẽ hết hiệu lực vào ngày 30/6/2018)

2. Luật sư tư vấn:

Đầu tiên, bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra (​bồi thường thiệt hại trong trường hợp do cán bộ, công chức, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra theo Điều 598 Bộ luật dân sự 2015 được cụ thể hóa tại Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước 2009)

Điều 598. Bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra
Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Thứ nhất, về mặt khái niệm:

– Cán bộ công chức theo Pháp lệnh Cán bộ Công chức: là những người được bầu, bổ nhiệm, tuyển dụng để thực hiện những công việc nhất định trong các cơ quan nhà nước, trong tổ chức chính trị, chính trị xã hội…

– Công vụ và thực thi công vụ: là các công việc mà cán bộ, công chức được giao để thực hiện theo đúng vị trí mà mình đã được sử dụng và theo nhu cầu của cơ quan trực tiếp quản lý.

– Cơ quan tiến hành tố tụng: là các cơ quan có thẩm quyền tiến hành một trong các giai đọan của quá trình tố tụng, bao gồm cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án.

– Người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Chánh án Toà án, Phó chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án, Viện trưởng Viện kiểm sát, Phó viện trưởng, Kiểm sát viên.

Thứ hai, về mặt điều kiện:

– Có thiệt hại xảy ra trên thực tế: tài sản, tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín.

– Có hành vi trái pháp luật

– Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với thiệt hại xảy ra

– Lỗi: cố ý hoặc vô ý

Thứ ba, về nội dung

– Phương thức bồi thường cho người bị thiệt hại: cơ quan trực tiếp quản lý cán bộ công chức sẽ phải trực tiếp bồi thường cho người bị thiệt hại bằng tiền từ ngân sách nhà nước.

– Phương thức hoàn trả: người trực tiếp gây thiệt hại hoàn trả theo quyết định của cơ quan chủ quản căn cứ vào các văn bản có liên quan.

Tiếp theo, bồi thường thiệt hại cho người bị oan do hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự gây ra (được cụ thể hóa tại Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước 2009).

Chương III

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG

Mục 1. PHẠM VI TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG

Điều 26. Phạm vi trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự

Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:

1. Người bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giữ vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;

2. Người bị tạm giam, người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, người đã bị kết án tử hình, người đã thi hành án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

3. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án không bị tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù có thời hạn mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

4. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án, đã chấp hành hình phạt tù mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành;

5. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án và bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm tội bị kết án tử hình và tổng hợp hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam vượt quá so với mức hình phạt chung của những tội mà người đó phải chấp hành;

6. Người bị xét xử bằng nhiều bản án, Toà án đã tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đó, mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành;

7. Tổ chức, cá nhân có tài sản bị thiệt hại do việc thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu, xử lý có liên quan đến các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này thì được bồi thường.

Điều 27. Các trường hợp không được bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự

1. Người được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

2. Cố ý khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu, vật chứng khác sai sự thật để nhận tội thay cho người khác hoặc để che giấu tội phạm.

3. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án hoặc Toà án quyết định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, đã bị tạm giữ, bị tạm giam, đã chấp hành hình phạt tù hoặc đã bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành án mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội nhưng không thuộc các trường hợp quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều 26 của Luật này.

4. Người bị khởi tố, truy tố trong vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại nhưng vụ án đã được đình chỉ do người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố, trừ trường hợp hành vi vi phạm pháp luật của họ chưa cấu thành tội phạm.

5. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử là đúng với các văn bản quy phạm pháp luật tại thời điểm khởi tố, truy tố, xét xử nhưng tại thời điểm ra bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà theo các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành và có hiệu lực sau ngày khởi tố, truy tố, xét xử đó họ không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Give a Comment