Tư vấn về việc Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Xin chào AskLaw,

Em tên Nguyễn Hoàn Nguyên, 29 tuổi, đang làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh.

Em đang làm việc cho Công ty TNHH Bintai Kindenko Việt Nam, là một Công ty cơ điện.

Em đã ký hợp đồng lần thứ 4 với Công ty này, hợp đồng sau cùng ký vào tháng 02/2019, loại hợp đồng có thời hạn 01 năm, thời gian hết hạn hợp đồng là tháng 02/2020.

Ngày 20/05/2019 em có nhận được thư thông báo “Kết thúc hợp đồng lao động” từ Công ty, thư bằng tiếng Anh (AskLaw có thể tham khảo hình đính kèm), nội dung chính của thư bao gồm:

  • Vì dự án (RWC) em làm đã hoàn thành, Công ty không có nhu cầu với công việc của em nữa. (* Nguyên nhân 1)
  • Ngày cuối cùng làm việc của em sẽ là 20/06/2019.

(Đến đây em xin nói một chút về hợp đồng em đã ký với Công ty: hợp đồng em ký với công ty là loại hợp đồng có thời hạn 01 năm, là nhân viên chính thức, không có khoản nào quy định về làm việc theo dự án hay bất cứ ở đâu)

Cũng trong ngày 20/05/2019, em được Công ty mời về văn phòng chính để giải thích là: “Công ty đang cắt giảm nhân sự, vì hiện tại Công ty không có dự án mới. Các dự án hiện tại bao gồm 01 dự án đã xong, 02 dự án gần xong và 01 dự án đang đứng, nên Công ty không có nhu cầu thuê em nữa” (*Nguyên nhân 2)

Em có tìm hiểu quy định về “Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động” theo Khoản 1, điều 38, Bộ Luât Lao Động số 10/2012/QH13 thì có 04 trường hợp Người sử dụng lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động được liệt kê tại các mục a, b, c, d của khoản 1, điều 38.

Em tự nhận xét và thấy trường hợp của em không thuộc một trong các mục a, b, d của khoản 1, điều 38.

Ở mục c, khoản 1, điều 38 có quy định: “Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy dịnh của pháp luật, mà nguời sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhung vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc”

Vậy em xin phép được đặt câu hỏi thứ nhất, mong AskLaw tư vấn cho em:
Trong trường hợp này, Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với em, vậy Nguyên nhân 1 hoặc Nguyên nhàn 2 có phù hợp với quy định tại mục c, khoản 1 điều 38 hay không?

Nếu việc chấm dứt hợp đồng của Công ty là phù hợp với khoản 1, điều 38 Bộ Luật lao Động, như vậy trường hợp này rơi vào khoản 10, điều 36 Bộ Luật Lao Động, như vậy em đủ điều kiện để nhận trợ cấp thôi việc từ Công ty (theo quy định tại khoản 1, điều 48)

Ở khoản 2, điều 48 có quy định về “Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc”, nhưng em không thật sự hiểu lắm về việc tính thời gian làm việc này. Vậy em có câu hỏi thứ 2 em xin được hỏi là:

Em ký hợp đồng thử việc vào tháng 12/2015, đến 2/2016 em ký hợp đồng lao động 1 năm, 2/1027 em ký lần 2, 2/2018 em ký lần 3, 2/2019 em ký lần 4. Từ tháng 2/2016 Công ty có đóng đầy đủ bảo hiểm trong có có bảo hiểm thất nghiệp. Như vậy “Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc” của em là bao lâu và trong trường hợp này thì em có nhận được trợ cấp thôi việc không và nhận được bao nhiêu tháng hay bao nhiêu phần trăm của một tháng lương cơ bản?

Em đã trình bày chi tiết thông tin và câu hỏi, mặc dù khá là dài, mong AskLaw bớt chút thời gian tư vấn cho em để em giữ được những quyền lợi chính đáng cho mình.

Em xin chân thành cảm ơn AskLaw.

One Comment

Leave a Reply
  1. Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Hỏi đáp pháp luật. Chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

    – Vấn đề thứ nhất: Về chấm dứt hợp đồng lao động:

    Việc công ty chấm dứt hợp đồng lao động với bạn không thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 38 của Luật lao động vì đây này không phải trường hợp bất khả kháng theo quy định của pháp luật. Trong nguyên nhân 1 mà công ty nói với anh về nguyên nhân nghỉ việc là do dự án đã hoàn thành nên trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động này có thể thuộc trường hợp “Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động” (theo khoản 2 Điều 36 Luật lao động 2012).

    – Vấn đề 2: Về trợ cấp thôi việc

    Điều 48 Luật lao động quy định về trợ cấp thôi việc như sau:

    “1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

    2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

    3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.”

    Như vậy, theo quy định trên thì thời gian để tính trợ cấp thôi việc của bạn là thời gian bạn làm việc thực tế tại doanh nghiệp trừ đi thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp. Thời gian bạn làm việc thực tế tại doanh nghiệp là 3 năm 5 tháng (từ tháng 12/2015 đến tháng 6/2019) và bạn bắt đầu đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 2/2016 đến nay nên thời gian tính trợ cấp thôi việc của bạn là 3 tháng (từ tháng 12/2015 đến tháng 2/2016).

    => Bạn không đủ điều kiện để hưởng trợ cấp thôi việc.

    Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi. Nếu có vấn đề thắc mắc, bạn vui lòng liên hệ tổng đài 19006261 để được tư vấn giải đáp

Trả lời

Giành quyền nuôi con

Quyền và nghĩa vụ chăm sóc nuôi dưỡng con cái