Chia tài sản khi ly hôn như thế nào? Tại sao?

Chia tài sản khi ly hôn như thế nào? Tại sao?

Câu hỏi

Luật sư hướng dẫn cách chia tài sản khi ly hôn đúng quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình hiện nay thế nào

1. Cơ sở pháp lý:

Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

– Nghị định số 126/2014/NĐ-CP hướng dẫn Luật hôn nhân và gia đình

2. Luật sư tư vấn:

Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong vụ án ly hôn gây ra nhiều hệ quả, ảnh hưởng tới nhiều mặt đối với cuộc sống của vợ chồng sau khi ly hôn. Do đó, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong vụ án lý hôn phải được thực hiện trên các nguyên tắc tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

“1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.”

– Các bên tự thỏa thuận với nhau về việc phân chia tài sản:

Pháp luật tôn trọng việc thỏa thuận của các bên trong việc phân chia tài sản. Nguyên tắc này thể hiện rõ sự tự do cam kết thỏa thuận của công dân, tôn trọng ý chí tự nguyện, tự quyết định của các bên trên cơ sở không trái đạo đức, không trái pháp luật. Việc chia tài sản trên cơ sở các bên thỏa thuận với nhau giúp tránh làm mất thời gian trong quá trình ly hôn, tránh mất công, mất sức của các bên, đồng thời giúp các bên không gia tăng sự căng thẳng trong quá trình ly hôn, tạo điều kiện cho việc thi hành án được dễ dàng.

Nguyên tắc này cũng được quy định một lần nữa tại thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP : “Vợ chồng khi ly hôn có quyền tự thỏa thuận với nhau về toàn bộ các vấn đề, trong đó có cả việc phân chia tài sản.” .

Chỉ khi không có thỏa thuận giữa hai vợ chồng thì mới thực hiện việc chia tài sản theo pháp luật quy định là có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

– Đảm bảo được các lợi ích chính đáng của mỗi bên

Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Về nguyên tắc thì tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được chia đôi, tức là vợ, chồng mỗi bên sẽ được 50% tài sản chung, nhưng việc chia tài sản chung như vậy có thể ảnh hưởng vaò việc sản xuất kinh doanh, hoạt động nghề nghiệp của mỗi bên và ảnh hưởng đến quyền lợi của người thứ ba cùng tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh.

– Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

Tài sản chung của vợ chồng được tạo ra từ rất nhiều nguồn khác nhau dưới các hình thức khác nhau bao gồm các động sản, bất động sản, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. Các tài sản chung có thể được vợ chồng tạo ra ở các hoạt động khác nhau. Do đó, khi chia tài sản chung của vợ chồng là các vật cho mỗi bên sở hữu, pháp luật cho phép người thực thi pháp luật có quyền phân chia bằng hiện vật hoặc chia theo giá trị của hiện vật đó theo yêu cầu của các bên cũng như các điều kiện thực tế khác. Giá trị của tài sản các bên có thể tự thỏa thuận với nhau dựa vào các yếu tố hình thành nên tài sản đó, hoặc các bên có thể yêu cầu Tòa án định giá, thẩm định giá trị của tài sản hiện vật đó. Bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị cao hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.

Ví dụ: chiếc oto không thể phân chia bằng hiện vật, mà phải giao cho một bên có nhu sử dụng, bên còn lại sẽ được nhân thanh toán bằng với giá trị mà mình được nhận. Việc giao hiện vật cho 1 bên tòa án sẽ căn cứ vào nhu cầu của bên cần sử dụng, bên nào nhu cầu cao hơn sẽ được ưu tiên nhận phần là hiện vật hơn.

– Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Từ đặc điểm về thể chất và tinh thần, pháp luật đặc biệt quan tâm bảo vệ vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Trong thực tế, người vợ khi kết hôn thường dành nhiều thời gian chăm sóc chồng, con để người chồng có thời gian học tập, phục vụ cho công việc. Dù thu nhập, công sức bỏ ra của vợ, chồng khác nhau nhưng các bên đều có những đóng góp nhất định để có thể duy trì gia đình. Vì thế, pháp luật thừa nhận lao động của người vợ nội trợ trong gia đình cũng được coi là lao động có thu nhập.

Đối với người con thì khi thay đổi hoàn cảnh sẽ ảnh hưởng đến việc học tập, các điều kiện chăm sóc,… Do đó cha mẹ khi ly hôn vẫn phải có những quyền và nghĩa vụ đối với con cái trong gia đình.

 

Give a Comment