Chuyển nhượng quyền sử dụng đất trái pháp luật

Chuyển nhượng quyền sử dụng đất trái pháp luật

Câu hỏi

Gia đình tôi ở đậu 4 đời gần 100 năm. Năm 2006 12 năm nay chúng tôi đã bồi hoàn 10 triệu cho chủ đất, chủ đất đã nhận tiền và viết giấy nhận nhưng chưa công chứng (nội dung tôi tên Tô Anh Vũ đã nhận tiền bồi hoàn 1 nền nhà của ông Nguyễn Văn A). Tôi xin nói thêm, thời điểm bồi hoàn diện tích nhà tôi sử dụng là căn nhà tôi đang ở và phía trước nhà có mái tôn để bán tiệm. Do trên giấy không để rõ diện tích là bao nhiêu, chủ đất đòi lại phần mái tôn đó. Chủ đất nói chỉ bán 1 nền nhà cho gia đình tôi.

Vậy chúng tôi phải làm gì?

Gia đình chúng tôi có mất phần diện tích mái tôn kia không?

Trả lời tư vấn:

Vì bạn thực hiện “bồi hoàn 10 triệu cho chủ đất” vào năm 2006 nên ở thời điểm này sẽ áp dụng Luật Đất đai 2003 để xem xét tính gia đình bạn có phải chủ sử dụng hợp pháp của mảnh đất đó hay không?

Theo điểm b Khoản 1 Điều 127 Luật Đất đai 2003 quy định:

“…Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng nhà nước; trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân thì được lựa chọn hình thức chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất.”

Vậy, trong trường hợp này, giữa bạn và chủ sử dụng hợp pháp của mảnh đất chỉ có giấy viết tay không thực hiện công chứng, chứng thực thì hợp đồng này không được pháp luật thừa nhận. Theo đó, nó sẽ được xác định là giao dịch vô hiệu, và các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp này, bạn cần xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật đất đai hiện hành là Luật Đất đai 2013.

Theo đó, điểm a Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013 quy định:

“a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;”

Đồng thời, bạn cũng cần lưu ý, bên bán ký tên trên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc là người khác được ủy quyền phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự hiện hành. Nếu đó là mảnh đất có nhiều đối tượng có quyền sử dụng hợp pháp thì trên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có tất cả các thành viên có quyền sử dụng đất ký tên đồng ý chuyển nhượng theo Điều 64 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP:

“Điều 64. Hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất

1. Hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình phải được người có tên trên Giấy chứng nhận hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự ký tên.

2. Hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của nhóm người sử dụng đất, nhóm chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất phải được tất cả các thành viên trong nhóm ký tên hoặc có văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự, trừ trường hợp các chủ sở hữu căn hộ cùng sử dụng chung thửa đất trong nhà chung cư.”

Để có thể tiếp tục sử dụng hợp pháp phần mái tôn trước nhà, trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bạn nên đề rõ là chuyển nhượng phần nền nhà với diện tích bao nhiêu m2; kèm theo trước nhà là phần mái tôn với diện tích là bao nhiêu m2.

Để lại bình luận

avatar
  Theo dõi  
Thông báo khi