Con tròn 36 tháng mẹ có quyền nuôi con nữa không?

Con tròn 36 tháng mẹ có quyền nuôi con nữa không?

Xin chào chuyên mục hỏi đáp pháp luật! Tôi có một vấn đề sau muốn chuyên mục giải đáp giúp tôi như sau:Chị tôi kết hôn được 4 năm. Chị tôi đã có một đứa con gái 35 tháng tuổi đến ngày 20 tháng 6 là cháu tròn 36 tháng tuổi.  Trước đây vì vợ chồng chị cãi nhau  nên chồng chị  tôi đã dẫn con về quê ở Nha Trang mà không có sự đồng ý của chị tôi, vì chị tôi bất lực nên chấp nhận. Vợ chồng chị sống xa nhau một thời gian, vì thương  con nênchị  tôi đã cố gắng. Đến bây giờ cuộc sống vợ chồng chị gặp mâu thuẫn ngày càng nhiều do gặp khó khăn về tiền bạc. Ông bà nội dẫn cháu lên chơi, dù vậy vợ chồng chị tôi vẫn không có tiếng nói chung, tất cả vì tiền bạc, gặp khó khăn là xảy ra chuyện, vợ chồng chị thường xuyên  cãi nhau, chồng chị tôi vẫn đánh chị tôi trước mặt con và ông bà, có lúc cầm giao đòi giết chị tôi. Chị Tôi rất mệt mỏi, Và chị quyết định dẫn con đi nhưng vấn cho bố đứa bé và ông bà nội đến thăm cháu. Sau chồng chị tôi đã xin lỗi và hứa không bao giờ như vậy nữa.Nhưng sau chồng chị và bà nội đã dẫn cháu đi. Hiện tai, Chị Tôi đang kiếm công việc, khi có công việc ổn định chị tôi sẽ làm đơn ly hôn để dẫn con về.Vậy cho tôi hỏi, với số tuổi của con và tình trạng như vậy chị tôi có thể làm đơn ly hôn không và chị tôi có thể được nuôi con không? Và giấy tờ kết hôn và giấy khai sinh của con chồng chị tôi đã giữ tất cả. Chồng chị tôi làm lương một tháng 11 triệu làm tại một công ty ở Tp.HCM, nhưng tiêu pha rất phung phí, không đủ tiêu xài cho cuộc sống của bản thân, ông bà nội ở nhà cũng già rồi không đi làm, nhà ở gần trường nên giữ xe ở nhà thôi, có lúc vợ chồng chị  tôi gửi tiền về cho. Gia đình chồng chị tôi không có gì cả.Mong chuyên mục giải đáp giúp tôi để chị tôi có quyền nuôi, ngoài ra chị tôi không cần gì cả. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục của chúng tôi,  với trường hợp của bạn chúng tôi giải đáp như sau:

Về cơ sở pháp lý:

Luật hôn nhân gia đình năm 2014

Về nội dung trả lời:

Trong trường hợp của bạn, nếu chị bạn và chồng chị bạn cùng đồng thuận về việc ly hôn, và thỏa thuận được với nhau về vấn đề chia tài sản và chăm sóc, nuôi dưỡng con thì Tòa án sẽ công nhận thuận tình ly hôn cho vợ chồng bạn theo quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình:

“Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.”

Trong trường hợp, bạn muốn ly hôn, nhưng chồng bạn không đồng ý ly hôn. Bạn có thể nộp đơn lên Tòa án và yêu cầu đơn phương ly hôn. Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

“Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.”

Như vậy, Pháp luật cho phép vợ/chồng đơn phương ly hôn trên cơ sở xem xét các căn cứ mà bên đơn phương xin ly hôn đưa ra. Cụ thể là các căn cứ chứng minh: “Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”

Tình trạng hôn nhân của vợ chồng trầm trọng khi:

– Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hòa giải nhiều lần;

– Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hòa giải nhiều lần;

– Vợ chồng không chung thủy với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình.

Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn nêu trên. Nếu thực tế cho thấy vợ chồng đã được nhắc nhở, hòa giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.

Theo những quy định trên, chị bạn cần chứng minh cho Tòa án hôn nhân của bạn rơi vào tình trạng trầm trọng, không thể kéo dài, mục đích hôn nhan không đạt được.

Quyền nuôi dưỡng con cái sau ly hôn được quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân, gia đình năm 2014:

“Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Như vậy việc nuôi con sẽ do vợ chồng thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con. Vào thời điểm hiện tại, con của bạn dưới 36 tháng tuổi nên sẽ được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng.

Thủ tục ly hôn bao gồm:

– Đơn xin ly hôn;

– Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

– Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ và chồng

– Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng

– Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở (nếu có)…

– Bản sao giấy khai sinh của con.

– Nơi nộp hồ sơ: Tòa án nhân dân quận, huyện nơi thường trú của người ký đơn xin ly hôn.

Tuy nhiên trong trường hợp của chị bạn thì mọi giấy tờ kết hôn, sổ hộ khẩu, giấy khai sinh của con đều do chồng bạn giữ thì bạn có thể làm như sau:

+ Về hộ khẩu: Liên hệ với công an cấp phường, xã nơi bạn thường trú xác nhận rằng bạn có hộ khẩu thường trú khẩu thường trú tại địa phương. Bạn có thể làm một đơn xin xác nhận hộ khẩu thường trú riêng hoặc có thể nhờ công an xác nhận ngay vào đơn xin ly hôn.

+ Về giấy Đăng ký kết hôn: Liên hệ với cơ quan hộ tịch nơi bạn đăng ký kết hôn trước đây để xin cấp bản sao.

+ Về khai sinh: Liên hệ với cơ quan hộ tịch nơi đăng ký khai sinh cho con trước đây để xin cấp bản sao.

Khi liên hệ với các cơ quan chức năng để làm các giấy tờ nói trên,chị bạn có thể nói rõ lý do chồng chị bạn cầm hết giấy tờ và chị bạn muốn ly hôn nhưng chồng chị bạn không đồng ý để các cơ quan chức năng, kể cả tòa án biết để các cơ quan này giúp đỡ chị bạn. Khi nộp đơn cho tòa án, nếu vẫn thiếu giấy tờ nào đó theo yêu cầu của tòa án mà chị bạn không thể bổ sung được thì chị bạn cứ xin tòa nhận đơn, trong quá trình thụ lý và giải quyết tòa án sẽ yêu cầu chồng chị bạn bổ sung sau.

Trên đây là ý kiến giải đáp của chúng tôi về câu hỏi của bạn. Việc đưa ra nội dung nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do người hỏi cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Give a Comment