Đánh người trộm cắp tài sản có vi phạm pháp luật không?

Đánh người trộm cắp tài sản có vi phạm pháp luật không?

Câu hỏi:

Hôm qua ở chỗ tôi có một vụ ăn trộm xe máy. Người bị mất trộm khi đuổi được người trộm xe đã quá tức giận đánh người ăn trộm đó bị thương nặng. Xin hỏi sự việc như vậy người đó có bị phạt gì không?

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục tư vấn luật hình sự của chúng tôi,  với trường hợp của bạn chúng tôi giải đáp như sau:

Cơ sở pháp lý

Luật sư tư vấn

Cho dù là kẻ trộm thì bất kỳ ai cũng không được phép xâm phạm tới sức khỏe, thân thể và tính mạng, danh dự, nhân phẩm. Nếu ai đó thực hiện một trong các hành vi ấy thì tùy theo tính chất, mức độ sẽ phải gánh chịu hậu quả pháp lý tương ứng. Cụ thể, nếu đánh và gây ra thương tích cho người trộm cắp tài sản thì có thể bị phạt tù về tội “Cố ý gây thương tích”, theo Điều 104; “Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”, Điều 105-BLHS.

Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.”

Điều 105. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Đối với nhiều người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác.

Trường hợp đánh cố ý đánh đến chết hoặc vì lý do bị đánh, người trộm cắp tài sản mất mạng thì những người thực hiện hành vi này có thể bị xử lý nặng nhất là theo khoản 1, Điều 93, tội “Giết người” hoặc cũng bị xử lý với tội danh đó, nhưng thuộc trường hợp quy định tại khoản 2. Còn ở vào trường hợp chỉ cố ý gây thương tích cho người trộm cắp tài sản, nhưng vẫn dẫn tới hậu quả chết người thì bị xem xét, phạt tù theo khoản 3, Điều 104 – BLHS hoặc khoản 2, Điều 105. Nếu có hành vi xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm người ăn trộm thì có thể sẽ bị xử lý về tội “Làm nhục người khác”, theo Điều 121 – BLHS.

Điều 121. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Các bạn tham khảo thêm về bộ luật hình sự 1999

 

Give a Comment