Giải quyết tranh chấp đất đai có số đỏ và hợp đồng chuyển nhượng như thế nào?

Giải quyết tranh chấp đất đai có số đỏ và hợp đồng chuyển nhượng như thế nào?

Xin chào chuyên mục hỏi đáp pháp luật! Tôi có một câu hỏi muốn chuyên mục giải đáp giúp tôi như sau: Tôi hiện đang sống ở Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Ông bà nội tôi có 6 người con, trước năm 1976, ông nội tôi đứng chủ quyền toàn bộ tài sản.Bà nội tôi mất năm 2000, sau giải phóng phần tài sản đó vẫn là của ông nội. Đến năm 2001,ông nội tôi sang tên chủ quyền cho cha tôi và cha tôi vẫn đứng chủ quyền duy nhất cho đến nay. Năm 2005, cha và mẹ tôi có đồng ý chia cho các gì tôi một phần đất thổ cư gồm 5 phần, trong đó có một phần cha tôi giữ lại làm lối đi và đường nước. Năm 2004, có chính sách nạo vét kênh mương và làm lộ nông thôn nên phần đất thổ cư đó mỗi người mất một phần cho nên hợp đồng chuyển nhượng không còn đúng với thực tế nên xảy ra tranh chấp không thể tách thửa. Năm 2013 UBND xã có đứng ra hòa giải và mọi người đã đồng ý ký tên trên biên bản hòa giải và đồng ý với diện tích theo biên bản. Khi tiến hành tách thửa gì thứ 6 (được chia một phần đất) lại không cho cơ quan  đo lại phần đất và cứ khăng khăng bắt cha tôi phải chia đúng diện tích có ghi trong hợp đồng chuyển nhượng năm 2005 nên phần đất đó vẫn còn đang tranh chấp không thể tách bộ cho các bên liên quan. Nay cha tôi vừa mất không lâu gì 6 lại đem hồ sơ tranh chấp khiếu nại ra tòa đòi gia đình tôi phải chia đúng với diện tích trong hợp đồng năm 2005. Xin hỏi gì thứ 6  tôi yêu cầu như vậy có đúng không? Về phía gia đình tôi có quyền không tuân thủ hợp đồng chuyển nhượng năm 2005 và lấy đất lại hay không? Nếu tách thửa tôi có quyền sang tên từ cha tôi cho tôi rồi làm các thủ tục tách thửa sau được không? mong chuyên mục giải đáp giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục của chúng tôi,  với trường hợp của bạn chúng tôi giải đáp như sau:

Về căn cứ pháp lý:

Bộ luật Dân sự 2005

Luật Đất đai 2013

Thông tư 24/2014/TT-BTNMT quy định về hồ sơ địa chính

Về nội dung trả lời:

+ Về việc chuyển giao quyền sử dụng đất năm 2005

Do bạn không trình bày rõ là giao dịch giữa bố bạn và những người anh, em còn lại là hợp đồng chuyển nhượng hay hợp đồng tặng cho bất động sản nên chúng tôi chia làm 2 trường hợp sau:

Thứ nhất, việc chuyển giao được thực hiện qua hợp đồng chuyển nhượng

Theo quy định tại điểm b, khoản 1, điều 127 Luật đất đai 2003:

“Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng nhà nước; trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân thì được lựa chọn hình thức chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất”.

– Hợp đồng chuyển nhượng đất đã được công chứng, chứng thực của UBND xã.

Nếu như hợp đồng chuyển nhượng giữa 2 bên đã có hiệu lực pháp luật thì cô bạn có lý do để đòi lại phần diện tích đã thỏa thuận trong hợp đồng vì gì đã trả tiền tương ứng để được sở hữu phần đất trong hợp đồng. Thời điểm năm 2004, UBND xã đã có chính sách nạo vét kênh mương nhưng thời điểm 2005 hợp đồng giữa 2 bên mới được ký kết, vì vậy bố bạn phải biết về sự thiếu hụt đất đó. Việc chuyển nhượng của bố bạn trong trường hợp này đã có dấu hiệu lừa dối và gì bạn có cơ sở để yêu cầu bạn (là người thừa kế của bố bạn) buộc tiếp tục hợp đồng.

– Hợp đồng chuyển nhượng đất không có công chứng, chứng thực của UBND xã.

Với trường hợp này thì hợp đồng sẽ vô hiệu về mặt hình thức theo quy định, bạn sẽ không phải tiếp tục hợp đồng chuyển nhượng này. Tuy nhiên, nếu các bên vẫn thừa nhận về việc có giao kết và thực hiện theo hợp đồng (có sự xác nhận của tất cả mọi người) và đã có sự chuyển giao tài sản của 2 bên và thì hợp đồng chuyển nhượng này vẫn có hiệu lực pháp luật. Khi đó, việc yêu cầu bàn giao đủ số đất như trong hợp đồng của gì bạn là có cơ sở. Nếu bạn không thực hiện tiếp hợp đồng thì có thể sẽ phải bồi thường thiệt hại với trường hợp này (có thể là chênh lệch về giá đất giữa 2 thời điểm) theo quy định tại điều 137 Bộ luật dân sự 2005:

“Điều 137. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường”.

Thứ hai, việc chuyển giao được thực hiện qua hợp đồng tặng cho

Theo quy định tại điều 467 Bộ luật Dân sự 2005 về tặng cho bất động sản:

“1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu.

2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản”.

– Hợp đồng tặng cho đã được công chứng, chứng thực của UBND xã.

Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực từ thời điểm đăng ký tuy nhiên nếu như hợp đồng này đã được công chứng thì giữa 2 bên đã có sự ràng buộc về mặt pháp lý với nhau. Do vậy, đối với trường hợp này, tuy việc tặng cho mà gì của bạn chưa đăng ký quyền sở hữu (chưa làm thủ tục sang tên) – việc tặng cho chưa có sự chuyển giao thực tế nhưng do hợp đồng đã được công chứng nên gì bạn có cơ sở để yêu cầu bạn tiếp tục thực hiện theo hợp đồng, nếu bạn không tiếp tục thực hiện hợp đồng thì có thể phải bồi thường thiệt hại.

– Hợp đồng tặng cho không có công chứng, chứng thực của UBND xã.

Khi đó, bạn là người thừa kế của bố bạn không bắt buộc phải tiếp tục thực hiện việc tặng cho với người gì.

+Về vấn đề tách thửa:

Đối với việc tách thửa đất thì bạn không bắt buộc phải sang tên hết toàn bộ mảnh đất sang tên mình rồi tách lại đất cho những người còn lại. Với trường hợp này, bạn và những người còn lại có quyền sở hữu mảnh đất (những người anh, em của bố bạn) có thể sang tên trực tiếp tên của mình. Khi đó, bạn cần phải có văn bản khai nhận di sản thừa kế của bố và những người còn lại cần chứng minh quyền sở hữu của mình bằng văn bản chuyển giao quyền sử dụng đất đã có từ bố bạn.

Hồ sơ nộp Văn phòng đăng ký đất đai khi thực hiện thủ tục tách thửa đất bao gồm:

– Đơn đề nghị tách thửa hoặc hợp thửa theo Mẫu số 11/ĐK;

– Bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp.

(Thông tư 24/2014/TT/BTNMT)

Khi tách thửa đất bạn cũng cần lưu ý rằng diện tích đất tách ra và diện tích còn lại khi tách phải lớn hơn diện tích tối thiểu được tách thửa theo quyết định của UBND tỉnh tại địa phương.

Trên đây là ý kiến giải đáp của chúng tôi về câu hỏi của bạn. Việc đưa ra nội dung nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do người hỏi cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Give a Comment