Giao dịch dân sự và điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

Giao dịch dân sự và điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm hay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

Về giao dịch dân sự:

Căn cứ theo quy định cảu Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 thì mọi hợp đồng đều là giao dịch dân sự, nhưng không phải mọi giao dịch dân sự sẽ là hợp đồng. Bởi vì nếu giao dịch của hai bên là hợp đồng. còn hành vi pháp lý đơn phương thể hiện ý chí của một chủ thể, do vậy hành vi pháp lý đơn phương không là hợp đồng giả sử như việc cá nhân lập di chúc để lại tài sản cho người được thừa kế theo chỉ định của mình. Hành vi pháp lý đơn phương được coi là giao dịch dân sự khi hành vi pháp lý đơn phương đó được tiến hành nhằm làm phát sinh một quyền hay nghĩa vụ dân sự của chủ thể được xác định.

Về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:

Điều 17 BLDS quy định về 3 điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự như sau:

– Chủ thể có năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

– Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

– Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

Trong một vài trường hợp cụ thể thì hình thức của giao dịch dân sự cũng là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.

Làm rõ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự như sau:

– Thứ nhất: Chủ thể có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân suwjChur thể của giao dịch là những người tham gia diao dịch là cá hân và pháp nhân và các chủ thể khác. Cá nhân tham gia giao dịch phải là người đã thành niên, người không bị mất năng lực hành vi dân sự, không phải là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, không phải là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì có quyền xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự phát sinh từ quân hệ giao dịch do mình xác lập. Những giao dịch dân sự do những người này xác lập có hiệu lực pháp luật.

Những cá nhân chưa thành niên, cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự, cá nhân có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi hoặc cá nhân bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì do người đại diện của người đó xác lập.

Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 125 BLDS cũng quy định một số trường hợp cá biệt khi xác lập giao dịch dân sự thì giao dịch đó không bị xác định là vô hiệu.

– Thứ hai: Về ý chí của chủ thể giao dịch: Theo quy định của BLDS thì chủ thể tham gia giao dịch dân sự phải hoàn toàn tự nguyện.

Sự tự nguyện của chủ thể tham gia giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Tự nguyện là tự do định đoạt ý chí, không bị ép buộc, dọa nạt, lừa dối, và không bị người khác áp đặt ý chí. Chủ thể tham gia giao dịch tự ình lựa chọn chủ thể tham gia khác, đối tượng của giao dịch, lựa chọn giá cả, địa điểm và những vấn đề khác trong việc xác lập giao dịch dân sự.

– Thứ ba: Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

Những giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật và trái đạo đức xã hội sẽ bị xác định là vô hiệu.

– Thứ tư: Hình thức của giao dịch dân sự.

Giao dịch dân sự sẽ không bị vô hiệu bởi hình thức trừ một số trường hợp yêu cầu hình thức là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.

Đối với quan hệ dân sự nói chung và quan hệ giao dịch nói riêng, quan trọng nhất là ý chí của chủ thể vào thời điểm xác lập giao dịch có tự nguyện hay không tự nguyện, chủ thể có đáp ứng được yêu cầu về chủ thể trong từng loại giao dịch không và nội dung của giao dịch do các bên thỏa thuận có vi phạm các điều cấm của pháp luật hay không. Những điều kiện về chủ thể, ý chí cảu chủ thể, mục đích và nội dung cần xác định để xác định một giao dịch dân sự có hiệu lực hay không.

Tuy nhiên, quy định ở khoản 2 điều 117 BLDS về hình thức của giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định. Quy định này đã cởi mở và tạo điều kiện thuận lợi cho các bên chủ thể tham gia giao dịch dân sự thực hiện đầy đủ các quyền dân sự của mình. Trên thực tế có những giao dịch hòa ntoafn phản ánh trung thực và khách quan ý chí tự nguyện của các bên, nhưng các bên lại không tuân thủ các quy định về hình thức nào đó mà giao dịch bị tuyên vô hiệu. Quy định về hình thức của giao dịch dân sự không rõ ràng là cơ hội cho những chủ thể không trung thực lạm dụng để hủy một giao dịch dân sự bất lợi cho mình hoặc dựa vào đó để mang lại những lợi ích vật chất có lợi cho mình mà gây thiệt hại cho người khác. Vì vậy, khoản 2 Điều 117 BLDS là một quy định không cứng nhắc và chỉ áp dụng trong một số trường hợp cụ thể.

Give a Comment