Giao dịch dân sự vô hiệu

Giao dịch dân sự vô hiệu

Câu hỏi: . Vợ chồng ông T thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nhằm thuận đường làm ăn của mỗi bên. Bản thỏa thuận đã được công chứng, trong đó cây sanh cảnh đặt ở hiên nhà được chia cho ông T. Khi đến nhà riêng làm việc, đối tác làm ăn của bà T đã rất thích cây cảnh này và ngỏ ý muốn mua. Ông T đã nói rằng cây cảnh thuộc quyền sở hữu riêng của ông, vợ chồng ông đã chia tài sản này rồi và ông không có ý định bán. Vài tháng sau, chẳng hiểu người khách nài nỉ thế nào, mà vợ ông T đã bán cây cảnh này với giá 500 triệu đồng. Thấy vợ khoe đã bán giúp ông cây cảnh với giá hời, ông T bàng hoàng vì cây cảnh có giá 1,6 tỷ đồng. Ông T đòi người khách trả cây nhưng không được. Ông T có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch mua bán cây cảnh của vợ ông là vô hiệu không?
Trả lời:
Asklaw xin tư vấn về vấn đề này như sau:
Căn cứ vào Điều 38 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, thì thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng ông T trong thời kỳ hôn nhân là hợp pháp.
Để xác định giao dịch mua bán cây cảnh của vợ ông T có hiệu lực hay vô hiệu thì cần xác định người khách mua cây cảnh đó ngay tình hay không ngay tình.
Do cây cảnh được xác định là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu nên căn cứ vào Khoản 2 Điều 32 Luật hôn nhân và gia đình: Trong giao dịch với người thứ ba ngay tình thì vợ, chồng đang chiếm hữu động sản mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó trong trường hợp Bộ luật dân sự có quy định về việc bảo vệ người thứ ba ngay tình. Như vậy, nếu đây là tài sản chung của vợ chồng thì giao dịch bán cây cảnh của vợ ông T là có hiệu lực.
Tuy nhiên vợ chồng ông đã thỏa thuận chia tài sản chung vợ chồng (có công chứng), vì vậy căn cứ vào Điều 8 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hôn nhân và gia đình thì: Người thứ ba xác lập, thực hiện giao dịch với vợ, chồng liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán, động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu thì bị coi là không ngay tình trong những trường hợp sau đây:
– Đã được vợ, chồng cung cấp thông tin theo quy định tại Điều 16 của Nghị định này mà vẫn xác lập, thực hiện giao dịch trái với những thông tin đó;
– Vợ chồng đã công khai thỏa thuận theo quy định của pháp luật có liên quan về việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản và người thứ ba biết hoặc phải biết nhưng vẫn xác lập, thực hiện giao dịch trái với thỏa thuận của vợ chồng.
Điều 16 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy định cung cấp thông tin về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong giao dịch với người thứ ba: Trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được áp dụng thì khi xác lập, thực hiện giao dịch vợ, chồng có nghĩa vụ cung cấp cho người thứ ba biết về những thông tin liên quan; nếu vợ, chồng vi phạm nghĩa vụ này thì người thứ ba được coi là ngay tình và được bảo vệ quyền lợi theo quy định của Bộ luật dân sự.
Như vậy, ông T đã nói cho người khách biết cây cảnh đã được vợ chồng ông thỏa thuận chia và thuộc quyền sở hữu của riêng ông, ông không có ý định bán cây này. Căn cứ vào Điều 8 và Điều 16 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP thì người khách mua cây cảnh được xác định là người thứ ba không ngay tình. Vì vậy, giao dịch mua bán cây cảnh giữa vợ ông T với người khách này là vô hiệu, ông T có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố đây là giao dịch vô hiệu.
Trên đây là câu trả lời tư vấn của chúng tôi. Nếu có gì thắc mắc, vui lòng liên hệ đến tổng đài tư vấn pháp luật qua số hotline 19006261 để được hỗ trợ giải đáp. Trân trọng!

Give a Comment