Hướng dẫn giải quyết tranh chấp về quyền nuôi con và tài sản sau khi ly hôn?

Hướng dẫn giải quyết tranh chấp về quyền nuôi con và tài sản sau khi ly hôn?

Câu hỏi

Vợ chồng tôi kết hôn đã 04 năm. Giờ không thể ở với nhau được nữa. Vợ chồng tôi có xây được một căn nhà, nhưng vẫn chưa có quyền sử dụng đất. Và số nợ chung là 70 triệu, vậy khi ly hôn giải quyết như nào? Hơn nữa là vợ chồng tôi có một cháu trai hơn 03 tuổi nếu tôi muốn nuôi con thì cần có những gì để chứng minh để giành quyền nuôi con?

1. Cơ sở pháp lý:

Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014

2. Luật sư tư vấn:

Về vấn đề phân chia tài sản khi ly hôn:

Theo thông tin bạn cung cấp, vợ chồng bạn kết hôn được 04 năm nay và có mộ số tài sản chung bao gồm: một căn nhà, nhưng vẫn chưa có quyền sử dụng đất và số nợ chung là 70 triệu, do đó, căn cứ Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng:

“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Như vậy, vợ chồng bạn được xem như có tài sản chung là mảnh đất và căn nhà trên mảnh đất đó vì tài sản này hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, căn cứ theo Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn, về nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau để phân chia tài sản chung của hai vợ chồng có thể là không chia đôi mà chia chênh lệch để bảo đảm quyền lợi cho mỗi bên vợ và chồng:

– Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

– Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

– Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

– Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Về khoản nợ chung 70 triệu đồng:

Căn cứ Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng:

“Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.”

Như vậy, nếu bạn chứng minh được khoản nợ 70 triệu đồng là khoản nợ chung của hai vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, là khoản nợ phát sinh từ việc sinh hoạt chung của cả gia đình trong thời kỳ hôn nhân để phục vụ mục đích, lợi ích chung của cả gia đình thì lúc này, khoản nợ 70 triệu đồng này về nguyên tắc sẽ chia đều cho cả hai vợ chồng, trừ trường hợp hai vợ chồng bạn tự thỏa thuận được với nhau về vấn đề này.

Về vấn đề giành quyền nuôi con sau khi ly hôn:

Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn thì khi bạn muốn giành quyền nuôi con thì bạn nên thỏa thuận về việc chồng bạn hoặc bạn là người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, nếu nhận thấy việc thỏa thuận của hai vợ chồng bạn đảm bảo được điều kiện tốt nhất về mọi mặt cho con thì Tòa án sẽ công nhận thỏa thuận của hai vợ chồng bạn.

Ngược lại, nếu hai vợ chồng bạn không tự thỏa thuận được với nhau về việc ai sẽ là người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì bạn muốn giành quyền ly hôn thì bạn phải chứng minh được mình có thu nhập ổn định, có tình hình kinh tế tốt, có đầy đủ khả năng chăm sóc con tốt nhất, đồng thời bạn chứng minh được chồng bạn không có khả năng chăm sóc con cũng như không có điều kiện chăm sóc con tốt như bạn. Ví dụ: chồng có hành vi ngoại tình, bạo lực gia định, đánh bạc, rượu chè không tập trung làm ăn,… Khi đó, căn cứ vào những bằng chứng mà bạn đưa ra, Thẩm phán giải quyết vụ việc ly hôn của vợ chồng bạn sẽ giao con cho bạn trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn.

0 0 vote
Article Rating
Theo dõi
Thông báo khi
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments