Không có khả năng chi trả khi vay nợ tài sản có bị khởi kiện?

Không có khả năng chi trả khi vay nợ tài sản có bị khởi kiện?

Câu hỏi

Em năm nay 33 tuổi. Cuối năm 2016 em có vay bạn làm việc ở nước ngoài 30 triệu. Nhưng hiện tại bạn ý đòi nhưng gấp quá em chưa trả được. Vay bằng miệng không giấy tờ. Em bảo em trả dần nhưng không nghe. Bạn ý kiện em ra Toà. Vậy em có bị sao không?

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Điều 463- Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hợp đồng vay tài sản:

“Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”.

Mặt khác, theo quy định tại Điều 466- Bộ luật Dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ của bên vay:

“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2.Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3.Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4.Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác

5.Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Dựa vào quy định trên, bạn có nghĩa vụ trả đủ tiền cho bạn của mình cả gốc và lãi (nếu có) khi đến hạn trả nợ mà hai bạn đã thỏa thuận. Khi đến thời hạn trả nợ mà bạn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì phía bên cho vay có quyền yêu cầu bạn trả nợ. Vì trong trường hợp này, việc vay tiền chỉ được thông qua bằng miệng không có văn bản. Do đó, thời hạn trả nợ sẽ là bên kia phải thông báo trước cho bạn một khoảng thời gian thích hợp để bạn có thể trả nợ.

Nếu trong khoảng thời gian hợp lý đó bạn vẫn không trả nợ bên cho vay có thể làm đơn khởi kiện bạn lên tòa án nhằm giải quyết theo thủ tục tố tụng, buộc bạn phải trả lại đầy đủ số tiền và tiền lãi. Nếu sau khi tòa án xét xử mà vẫn không chấp hành việc trả tiền cho ngân hàng thì bạn có thể bị sẽ cơ quan thi hành án cưỡng chế thi hành án, có thể kê biên, phong tỏa tài sản,… để thu hồi số nợ cho ngân hàng.

Tuy nhiên, trong thời gia gần đây do hoàn cảnh kinh tế của bạn khó khăn nên không thể thanh toán được cho tổ chức tín dụng. Bạn vẫn đối diện với khoản nợ này mà không cố ý muốn lẩn tránh, từ chối thì bạn vẫn không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Bởi vì, căn cứ vào Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 2017 quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

“1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

4.Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này”.

Như vậy, sau khi vay, mượn, thuê tài sản của người khác, người phạm tội có hành vi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản hoặc sử dụng tài sản đó và mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản, thì mới đủ cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Do trường hợp này, nếu bạn không có dấu hiệu tội phạm của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì trách nhiệm của bạn chỉ dừng lại trong phạm vi dân sự, đó là trách nhiệm trả nợ trong hợp đồng vay.

Give a Comment