Tìm kiếm một câu hỏi?

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào? bạn có thể tìm kiếm ở bên dưới hoặc nhập những gì bạn đang muốn tìm kiếm!

Mua đất viết giấy tay có những rủi ro thế nào?

Câu hỏi

Em đang tính mua đất 38 xào ruộng, đang nằm trong khu huy hoạch, có sổ đỏ không cấp sổ hồng, nhưng vì đang trong khu huy hoạch nên không chuyển nhượng mà phải viết giấy tay. Nhưng viết giấy tay rủi ro lớn cho người mua nên em phân vân nên nhờ luật sư tư vấn giúp ạ?

2. Luật sư tư vấn

Căn cứ theo quy định tại điều 167 Luật đất đai 2013 thì việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản và được công chứng tại Phòng công chứng, văn phòng công chứng hoặc chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã, phường nơi có đất. Và quyền sử dụng đất của người mua sẽ được xác lập kể từ thời điểm người đó được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cụ thể:

Điều 167. Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này.

2. Nhóm người sử dụng đất mà có chung quyền sử dụng đất thì có các quyền và nghĩa vụ như sau:

a) Nhóm người sử dụng đất gồm hộ gia đình, cá nhân thì có quyền và nghĩa vụ như quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân theo quy định của Luật này.

Trường hợp trong nhóm người sử dụng đất có thành viên là tổ chức kinh tế thì có quyền và nghĩa vụ như quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế theo quy định của Luật này;

b) Trường hợp nhóm người sử dụng đất mà quyền sử dụng đất phân chia được theo phần cho từng thành viên trong nhóm, nếu từng thành viên của nhóm muốn thực hiện quyền đối với phần quyền sử dụng đất của mình thì phải thực hiện thủ tục tách thửa theo quy định, làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và được thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của Luật này.

Trường hợp quyền sử dụng đất của nhóm người sử dụng đất không phân chia được theo phần thì ủy quyền cho người đại diện để thực hiện quyền và nghĩa vụ của nhóm người sử dụng đất.

3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;

b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;

c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự;

d) Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã.

Theo đó, đối với trường hợp của bạn vì lý do đất đang có quy hoạch sử dụng đất nên không thể công chứng, chứng thực hợp đồng mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà hai bên chỉ viết giấy tờ ký tay với nhau thì giấy tờ viết tay này chưa có giá trị pháp lý, có nghĩa rằng giấy tờ thỏa thuận giữa bạn và bên bán đất sẽ không được coi là cơ sở để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bạn. Nếu sau này rủi ro có tranh chấp xảy ra thì gia đình bạn sẽ không có quyền khởi kiện yêu cầu đỏi lại phần đất đã mua này.

Tuy nhiên, vì hai bên có sự thỏa thuận về việc mua bán đất ( chứng minh thông qua giấy tờ viết tay giữa bạn và bên bán đất ) nên nếu có tranh chấp thì bạn vẫn có quyền yêu cầu bên bán phải hoàn lại cho gia đình bạn số tiền mà bên bán đã nhận của bạn. Nếu bên bán không chủ động hoàn lại tiền thì bạn có thể dựa vào giấy tờ viết tay này để khởi kiện lên Tòa án nhân dân quận, huyện nơi người bán đất thường trú hoặc tạm trú để yêu cầu hoàn lại tiền.

Để lại bình luận

avatar
  Theo dõi  
Thông báo của