Kính gửi chuyên mục hỏi đáp pháp luật! Tôi có một vấn đề mong chuyên mục tư vấn giúp:Tôi làm bên chuyên cung cấp dịch vụ thực phẩm nhưng không có hóa đơn đỏ. Mỗi lần đối tác yêu cầu xuất hóa đơn là tôi phải đi mua của 1 công ty khác, công ty đó cũng như tôi chuyên cung cấp các dịch vụ thực phẩm.Công ty đó bán cho tôi giá 20% (bao gồm 10% thuế VAT và 10% phí dịch vụ). Trước đây, tôi đã từng nhờ bên này xuất nhiều hóa đơn, với tổng trị giá chưa tới 30 triệu đồng. Gần đây là hóa đơn trị giá 44000.000 đồng. Tuy nhiên tôi bị gặp phải chuyện như sau: Bên đối tác của tôi chỉ thanh toán bằng hình thức chuyển khoản qua TK công ty đã xuất Hóa đơn. Nhưng bên công ty kia sau khi xuất hóa đơn cho tôi xong rồi, lại bảo với tôi là tài khoản công ty đang bị chi cục thuế khóa, do không đóng thuế. Giờ có chuyển tiền vào cũng ko rút ra đc. Chị giám đốc công ty đó cứ bảo đang làm việc với chi cục thuế, khi nào xong sẽ báo tôi. Nhưng tôi đợi mãi vẫn không có câu trả lời. Đối tác củatôi cũng đang chờ để thanh toán cho tôi. Tôi thì không có tiền để trả lương nhân viên.Cho tôi hỏi việc Chi cục thuế đóng TK doanh nghiệp là có hay không ạ? Và nếu có thì sau bao lâu kể từ ngày doanh nghiệp đóng thuế đầy đủ thì bên thuế mới mở TK ra vậy ạ? Hoặc nếu chuyện chị Giám đốc đó nói là không đúng, chị ấy vẫn nhất quyết không đóng thuế thì TK ko đc mở, bên đối tác không thanh toán đc chotôi thì tôi có đc kiện công ty đó không ạ? Và nếu kiện thì cần những gì, chi phí khoảng bao nhiêu?tôi và chị ấy sẽ bị xử phạt như thế nào về hành vi mua bán hóa đơn đỏ ạ? Cả đối tác bên tôi nữa, có bị ảnh hưởng gì đến họ không ạ, họ không biết tôi mua hóa đơn.Mong chuyên mục giải đáp giúp tôi.Tôi chân thành cảm ơn !

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục của chúng tôi,  với trường hợp của bạn chúng tôi giải đáp như sau:

Thứ nhất: Bạn là cá nhân kinh doanh dịch vụ, thì bạn không được xuất hóa đơn đỏ ( giá trị gia tăng) bởi vì:

Theo quy định tại điều 11 thông tư 39/2014/ TT – BTC thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ – CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 và Nghị định số 04/2014/NĐ – CP ngày 17 tháng 01 năm 2014 của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ quy định như sau: “1. Cơ quan thuế bán hóa đơn cho các đối tượng sau:

a) Tổ chức không phải là doanh nghiệp nhưng có hoạt động kinh doanh (bao gồm cả hợp tác xã, nhà thầu nước ngoài, ban quản lý dự án).
Tổ chức không phải là doanh nghiệp nhưng có hoạt động kinh doanh là các tổ chức có hoạt động kinh doanh nhưng không được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và pháp luật kinh doanh chuyên ngành khác.

b) Hộ, cá nhân kinh doanh;

c) Tổ chức kinh doanh, doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp theo tỷ lệ % nhân với doanh thu.

d) Doanh nghiệp đang sử dụng hóa đơn tự in, đặt in thuộc loại rủi ro cao về thuế;

đ) Doanh nghiệp đang sử dụng hóa đơn tự in, đặt in có hành vi vi phạm về hóa đơn bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế, gian lận thuế.

Doanh nghiệp hướng dẫn tại điểm d, đ khoản này mua hóa đơn của cơ quan thuế trong thời gian 12 tháng. Hết thời gian 12 tháng, căn cứ tình hình sử dụng hóa đơn, việc kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp và đề nghị của doanh nghiệp, trong thời hạn 5 ngày làm việc, cơ quan thuế có văn bản thông báo doanh nghiệp chuyển sang tự tạo hóa đơn để sử dụng hoặc tiếp tục mua hóa đơn của cơ quan thuế nếu không đáp ứng điều kiện tự in hoặc đặt in hóa đơn (mẫu số 3.15 Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư này).

Căn cứ vào quy định của pháp luật ; trường hợp của bạn là cá nhân kinh doanh nhỏ lẻ , cho nên bạn không thể xuất hóa đơn đỏ GTGT ( giá trị gia tăng) cho đối tác được .Trường hợp này bạn chỉ có thể xuất hóa đơn bán hàng cho khách được thôi. Muốn xuất hóa đơn GTGT bạn phải thành lập công ty và đăng ký tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ. Cụ thể về điều kiện tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thực hiện theo quy định tại Điều 12 Thông tư 219/2013/TT-BTC được sửa đổi, bổ sung tại thông tư 119/2014/TT-BTC : “ “1. Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từbao gồm:

a) Cơ sở kinh doanh đang hoạt động có doanh thu hàng năm từ bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ từ một tỷ đồng trở lên và thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ, trừ hộ, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp hướng dẫn tại Điều 13 Thông tư này;

b) Cơ sở kinh doanh đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế, trừ hộ, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp hướng dẫn tại Điều 13 Thông tư này;

c) Tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp hàng hóa, dịch vụ để tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển và khai thác dầu, khí nộp thuế theo phương pháp khấu trừ do bên Việt Nam kê khai khấu trừ nộp thay.
2. Doanh thu hàng năm từ một tỷ đồng trở lên làm căn cứ xác định cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ theo hướng dẫn tại điểm a khoản 1 Điều này là doanh thu bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT và được xác định như sau:

a) Doanh thu hàng năm do cơ sở kinh doanh tự xác định căn cứ vào tổng cộng chỉ tiêu “Tổng doanh thu của HHDV bán ra chịu thuế GTGT” trên Tờ khai thuế GTGT tháng của kỳ tính thuế từ tháng 11 năm trước đến hết kỳ tính thuế tháng 10 năm hiện tại trước năm xác định phương pháp tính thuế GTGT hoặc trên Tờ khai thuế GTGT quý của kỳ tính thuế từ quý 4 năm trước đến hết kỳ tính thuế quý 3 năm hiện tại trước năm xác định phương pháp tính thuế GTGT. Thời gian áp dụng ổn định phương pháp tính thuế là 2 năm liên tục.

b) Trường hợp doanh nghiệp mới thành lập trong năm 2013 hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm 2013 không đủ 12 tháng thì xác định doanh thu ước tính của năm như sau: Tổng cộng chỉ tiêu “Tổng doanh thu của HHDV bán ra chịu thuế GTGT” trên Tờ khai thuế GTGT của kỳ tính thuế các tháng hoạt động sản xuất kinh doanh chia (:) số tháng hoạt động sản xuất kinh doanh và nhân với (x) 12 tháng. Trường hợp theo cách xác định như trên, doanh thu ước tính từ 1 tỷ đồng trở lên thì doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu trừ thuế. Trường hợp doanh thu ước tính theo cách xác định trên chưa đến 1 tỷ đồng thì doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính trực tiếp trong hai năm, trừ trường hợp doanh nghiệp đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế .

Ví dụ 52: Doanh nghiệp A thành lập và hoạt động từ tháng 4/2014. Để xác định phương pháp tính thuế cho năm 2015, 2016, doanh nghiệp A thực hiện tính doanh thu ước tính như sau: Lấy chỉ tiêu tổng doanh thu của HHDV bán ra chịu thuế GTGT trên tờ khai thuế GTGT của kỳ tính thuế các tháng 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11 chia (:) 9 tháng, sau đó nhân với (x) 12 tháng.

Trường hợp kết quả xác định được từ 1 tỷ đồng trở lên thì doanh nghiệp A áp dụng phương pháp khấu trừ thuế. Trường hợp doanh thu ước tính theo cách xác định trên chưa đến 1 tỷ đồng thì doanh nghiệp A áp dụng phương pháp tính trực tiếp trong hai năm 2015, 2016, trừ trường hợp doanh nghiệp A đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế.

c) Trường hợp doanh nghiệp thực hiện khai thuế theo quý từ tháng 7 năm 2013 thì cách xác định doanh thu của năm như sau: Tổng cộng chỉ tiêu “Tổng doanh thu của HHDV bán ra chịu thuế GTGT” trên Tờ khai thuế GTGT của kỳ tính thuế các tháng 10, 11, 12 năm 2012, 6 tháng đầu năm 2013 và trên Tờ khai thuế GTGT của kỳ tính thuế quý 3 năm 2013. Trường hợp theo cách xác định như trên, doanh thu từ 1 tỷ đồng trở lên thì doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu trừ thuế. Trường hợp doanh thu theo cách xác định trên chưa đến 1 tỷ đồng thì doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính trực tiếp trong hai năm, trừ trường hợp doanh nghiệp đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế.

d) Đối với cơ sở kinh doanh tạm nghỉ kinh doanh trong cả năm thì xác định theo doanh thu của năm trước năm tạm nghỉ kinh doanh…”.

Do đó việc bạn mua hóa đơn đỏ của công ty cung cấp dịch vụ thực phẩm khác để xuất hóa đơn cho khách hàng là trái với quy định của pháp luật. Theo thông tin mà bạn cung cấp thì bạn không nêu rõ, phía công ty đã xuất hóa đơn đỏ cho bạn bao nhiêu lần, nội dung số lượng hóa đơn đó. Hành vi mua bán hóa đơn giữa bạn và công ty  cung cấp dịch vụ thực phẩm là trái pháp luật. Và thuộc trường hợp sử dụng bất hợp pháp hóa đơn ( theo quy định tại điều 23 thông tư 39/2014/ TT – BTC):

“1. Sử dụng bất hợp pháp hóa đơn là việc lập khống hóa đơn; cho hoặc bán hóa đơn chưa lập để tổ chức, cá nhân khác lập khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (trừ các trường hợp được sử dụng hóa đơn do cơ quan thuế bán hoặc cấp và trường hợp được ủy nhiệm lập hóa đơn theo hướng dẫn tại Thông tư này); cho hoặc bán hóa đơn đã lập để tổ chức, cá nhân khác hạch toán, khai thuế hoặc thanh toán vốn ngân sách; lập hóa đơn không ghi đầy đủ các nội dung bắt buộc; lập hóa đơn sai lệch nội dung giữa các liên; dùng hóa đơn của hàng hóa, dịch vụ này để chứng minh cho hàng hóa, dịch vụ khác.

2. Một số trường hợp cụ thể được xác định là sử dụng bất hợp pháp hóa đơn:

– Hóa đơn có nội dung được ghi không có thực một phần hoặc toàn bộ.

– Sử dụng hóa đơn của tổ chức, cá nhân khác để bán ra, để hợp thức hóa hàng hóa, dịch vụ mua vào không có chứng từ hoặc hàng hóa, dịch vụ bán ra để gian lận thuế, để bán hàng hóa nhưng không kê khai nộp thuế”.
Trường hợp doanh nghiệp sử dụng bất hợp pháp hóa đơn thì bị xử lí trong hai trường hợp sau:
Nếu doanh nghiệp sử dụng bất hợp pháp hóa đơn mà dẫn đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế theo quy định tại điều 108 luật quản lí thuế thì doanh nghiệp chỉ bị xử lí về hành vi trón thuế, gian lận thuế theo quy định của luật quản lí thuế. Nghị định 129/2013/ NĐ – CP; Thông tư số 166/2013/ TT – BTC nêu trên, không bị xử lí về hành vi sử dụng bất hợp pháp hóa đơn theo quy định luật quản lí thuế, nghị định 51/2010/NĐ – CP . Nghị định 109/2013/NĐ – CP, Thông tư 10/2014/TT – BTC. Mức phạt: phạt từ 1 đến 3 lần số thuế trốn theo điều 13 của thông tư 166/ 2013/TT- BTC.
Nếu doanh nghiệp sử dụng bất hợp pháp hóa đơn mà không dẫn đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế theo quy định tại điều 108 luật quản lí thuế, thì chỉ bị xử lí về hành vi sử dụng bất hợp pháp hóa đơn theo quy định của luật quản lí thuế. Mức phạt: Phạt từ 20 đến 50 triệu theo thông tư 10/2014/ TT – BTC)

Thứ hai: Để trả lời câu hỏi chi cục thuế đóng tài khoản doanh nghiệp là có hay không?

Căn cứ vào điều 2 thông tư 215/2013/TT-BTC Hướng dẫn về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế ngày 31 tháng 12 năm 2013 quy định như sau:

Điều 2. Các trường hợp bị cưỡng chế

1. Đối với người nộp thuế

a) Người nộp thuế nợ tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế đã quá 90 (chín mươi) ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế, hết thời hạn gia hạn nộp thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế và của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

b) Người nộp thuế còn nợ tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền thuế có hành vi bỏ trốn, tẩu tán tài sản.

c) Người nộp thuế không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế thì bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế. Trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế có thời hạn thi hành nhiều hơn 10 (mười) ngày mà người nộp thuế không chấp hành quyết định xử phạt theo thời hạn ghi trên quyết định xử phạt thì bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế (trừ trường hợp được hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế).
2. Tổ chức tín dụng không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế và Luật Xử lý vi phạm hành chính.
3. Tổ chức bảo lãnh nộp tiền thuế cho người nộp thuế: quá thời hạn quy định 90 (chín mươi) ngày, kể từ ngày hết hạn nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền thuế theo văn bản chấp thuận của cơ quan thuế mà người nộp thuế chưa nộp đủ vào ngân sách nhà nước thì bên bảo lãnh bị cưỡng chế theo quy định của Luật Quản lý thuế và Luật Xử lý vi phạm hành chính.
4. Kho bạc nhà nước, kho bạc nhà nước cấp tỉnh, kho bạc nhà nước cấp huyện (sau đây gọi chung là kho bạc nhà nước) không thực hiện việc trích chuyển tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế mở tại kho bạc nhà nước để nộp vào ngân sách nhà nước theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế của cơ quan thuế.
5. Tổ chức, cá nhân có liên quan không chấp hành các quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế của cơ quan có thẩm quyền”.

Điều 3. Các biện pháp cưỡng chế

1. Các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế (sau đây gọi chung là biện pháp cưỡng chế)

a) Trích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế tại kho bạc nhà nước, tổ chức tín dụng; yêu cầu phong tỏa tài khoản.

b) Khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập.

c) Thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng

d) Kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên theo quy định của pháp luật để thu tiền thuế nợ, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước.

đ) Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế do tổ chức, cá nhân khác đang giữ.

e) Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề.

2. Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế nêu trên được thực hiện theo quy định tại Điều 11, 12, 13, 14, 15 và Điều 16 Mục 2 Thông tư này.Trường hợp đã ban hành quyết định cưỡng chế bằng biện pháp tiếp theo mà có thông tin, điều kiện để thực hiện biện pháp cưỡng chế trước đó thì người ban hành quyết định cưỡng chế có quyền quyết định chấm dứt biện pháp cưỡng chế đang thực hiện và ban hành quyết định thực hiện biện pháp cưỡng chế trước để bảo đảm thu đủ số tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền thuế.
Căn cứ vào điều 2 của thông tư, thì chi cục thuế không có quyền khóa tài khoản của doanh nghiệp, mà chỉ có quyền tiến hành các biện pháp cưỡng chế đối với công ty đang nợ thuế theo quy định tại khoản 1 điều 2 của thông tư. Và chi cục thuế chỉ áp dụng các biện pháp cưỡng chế sau: Trích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế tại kho bạc nhà nước, tổ chức tín dụng; yêu cầu phong tỏa tài khoản; Khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập; Thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng; Kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên theo quy định của pháp luật để thu tiền thuế nợ, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước; Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế do tổ chức, cá nhân khác đang giữ; Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề.( theo quy định tại khoản 1 điều 3 của thông tư).

Trên đây là ý kiến giải đáp của chúng tôi về câu hỏi của bạn. Việc đưa ra nội dung nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do người hỏi cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về chuyên mục hỏi đáp pháp luật!

Was this article helpful to you?

Tuyết Tuyết

Leave a Reply