Câu hỏi:

Tôi có một mảnh đất rừng 2(ha) đồng quyền sở hữu với một người em nhưng có chuyện gia đình xảy ra nên tôi phải chia đất.Nhưng em của tôi không chấp nhận chia.Tôi đã làm đơn gửi tòa án của huyện rồi bên tòa có lên rừng để chia nhưng em của tôi không chấp nhận và tòa án huyện không giải quyết được chuẩn bị chốt hồ sơ để tỉnh xử lí nhưng án phí để nộp vào tỉnh là 10 triệu/1 ha. Gia đình tôi không có điều kiện để nộp án phí để làm đơn gửi vào tỉnh.Tôi mong luật sư có thể tư vấn giúp tôi về việc này phải làm sao và giải thích giúp tôi.Xin chân thành cảm ơn!

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục tư vấn luật đất đai của chúng tôi, với trường hợp của bạn chúng tôi giải đáp như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (Sửa đổi, bổ sung năm 2011)

Pháp lệnh 10/2009/UBTVQH12 về Án phí, lệ phí tòa án

2. Luật sư tư vấn:

– Theo thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi, chúng tôi xin tư vấn vấn đề của bạn như sau:

Căn cứ Điều 132 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (Sửa đổi bổ sung năm 2011):

“Điều 132. Nghĩa vụ nộp án phí phúc thẩm

1. Đương sự kháng cáo phải nộp án phí phúc thẩm, nếu Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp án phí phúc thẩm.

2. Trong trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo thì đương sự kháng cáo không phải nộp án phí phúc thẩm; Tòa án cấp phúc thẩm phải xác định lại nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 131 của Bộ luật này.

3. Trong trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo để xét xử sơ thẩm lại thì đương sự kháng cáo không phải nộp án phí phúc thẩm; nghĩa vụ nộp án phí được xác định lại khi giải quyết sơ thẩm lại vụ án.”

Mặt khác, Căn cứ Điều 14 Pháp lệnh án phí, lệ phí năm 2009:

“Điều 14. Miễn nộp một phần tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí Tòa án

1. Người có khó khăn về kinh tế được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc xác nhận, thì được Tòa án cho miễn nộp một phần tiền tạm ứng án phí, án phí.

2. Người có khó khăn về kinh tế được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc xác nhận, thì được Tòa án cho miễn nộp một phần tiền tạm ứng lệ phí, lệ phí Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 4 của Pháp lệnh này.

3. Mức tiền được miễn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không được vượt quá 50% mức tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí Tòa án mà người đó phải nộp.”

Như vậy, nếu bạn phải nộp tiền tạm ứng án phí mà có xác nhận của UBND xã phường nơi bạn cư trú hoặc cơ quan nơi bạn làm việc thì bạn được xem xét để được miễn nộp một phần tiền tạm ứng án phí. Về hồ sơ nộp đơn miễn căn cứ vào Điều 15 Pháp lệnh án phí, lệ phí năm 2009:

“Điều 15. Nộp đơn đề nghị miễn tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí Tòa án

1. Người đề nghị được miễn tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí ,án phí, lệ phí Tòa án thuộc trường hợp quy định tại các điều 11, 13 và 14 của Pháp lệnh này phải có đơn đề nghị nộp cho Tòa án có thẩm quyền kèm theo các tài liệu, chứng từ chứng minh thuộc trường hợp được miễn.

2. Đơn đề nghị miễn tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí Tòa án phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn;

b) Họ, tên, địa chỉ của người làm đơn;

c) Lý do và căn cứ đề nghị miễn tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí Tòa án;

d) Xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc đối với trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 14 của Pháp lệnh này.”