Nam nữ ở chung khách sạn có phải trình giấy đăng ký kết hôn?

Nam nữ ở chung khách sạn có phải trình giấy đăng ký kết hôn?

Câu hỏi

Tôi là người việt nam ở chung với bạn trai (là chồng sắp cưới đã đi đăng ký nhưng đang chờ đến hẹn lấy giấy kết hôn) có phải trình giấy tờ chứng minh quan hệ hôn nhân khi đăng ký chung phòng khách sạn hay không ? Nếu có xin cho tôi biết cụ thể số và năm ban hành cùng cơ quan ban hành của luật này ạ?

1. Cơ sở pháp lý:

– Thông tư số 33/2010/TT-BCA

Đối với Thông tư số 02/2001/TT-BCA có quy định “Phải bố trí phòng nghỉ nam riêng, nữ riêng (trừ trường hợp là gia đình, vợ chồng)”, như vậy theo Thông tư 02/2001 thì việc nam nữ chưa đăng ký kết hôn mà ở chung phòng tại nhà nghỉ, khách sạn là vi phạm pháp luật, tuy nhiên, thông tư này đã hết hiệu lực và thay thế bằng Thông tư số 33/2010/TT-BCA.

Theo quy định pháp luật hiện hành thay thế thông tư cũ, cụ thể là Thông tư số 33/2010/TT-BCA không có quy định nào về việc cấm nam nữ ở chung phòng hay phải có đăng ký kết hôn mới được ở chung phòng.

Điều 6. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân làm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự

2. Trách nhiệm cụ thể đối với từng ngành, nghề kinh doanh

e) Cho thuê lưu trú

– Có nội quy của cơ sở kinh doanh lưu trú niêm yết tại nơi dễ thấy.

– Phải ghi đầy đủ các thông tin của khách lưu trú vào sổ trước khi khách vào phòng nghỉ và thông báo lưu trú với cơ quan Công an xã, phường, thị trấn sở tại trước 23 giờ trong ngày. Nếu khách đến lưu trú sau 23 giờ thì vào sổ và thông báo cho cơ quan Công an vào trước 8 giờ sáng ngày hôm sau (kể cả khách nghỉ theo giờ). Trường hợp có nghi vấn liên quan đến an ninh, trật tự phải báo cáo ngay cho Công an xã, phường, thị trấn.

– Cơ sở kinh doanh nếu thông báo lưu trú cho cơ quan Công an qua mạng Internet thì phải lưu trữ đầy đủ thông tin về khách đã lưu trú tại cơ sở để phục vụ công tác quản lý.

– Trường hợp khách mang theo vũ khí, công cụ hỗ trợ, chất nổ phải yêu cầu khách xuất trình giấy phép sử dụng do cơ quan Công an có thẩm quyền cấp và cơ sở kinh doanh phải có trách nhiệm bảo quản chặt chẽ.

– Người đến lưu trú có trách nhiệm xuất trình một trong các loại giấy tờ sau: Chứng minh nhân dân; Hộ chiếu; các loại giấy tờ có dán ảnh do các cơ quan quản lý Nhà nước Việt Nam cấp; giấy xác nhận cử đi công tác của cơ quan, tổ chức; xác nhận của cơ quan đến liên hệ công tác; xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú.

Trường hợp khách đến lưu trú không có các loại giấy tờ trên thì khi cho khách vào lưu trú, chủ cơ sở phải thông báo ngay cho cơ quan Công an phường, xã, thị trấn.

– Trường hợp khách đến lưu trú theo đoàn thì người đại diện hoặc trưởng đoàn làm các thủ tục lưu trú cho những người cùng đi nhưng phải xuất trình giấy tờ tùy thân để người tiếp nhận đối chiếu và ghi đầy đủ, chính xác thông tin về người lưu trú vào sổ quản lý lưu trú theo quy định. Trường hợp khách trong đoàn không mang giấy tờ tùy thân thì người đại diện hoặc trưởng đoàn phải viết giấy đề nghị cơ sở kinh doanh cho thuê lưu trú, nêu rõ lý do và cung cấp đầy đủ thông tin của những người cùng đi để cơ sở kinh doanh ghi vào sổ quản lý lưu trú theo quy định.

– Người đến thăm khách lưu trú tại phòng nghỉ phải xuất trình giấy tờ tùy thân tại quầy lễ tân, cơ sở phải có sổ theo dõi và ghi rõ, đầy đủ các thông tin có liên quan.

– Nghiêm cấm việc sử dụng cơ sở làm nơi chứa cấp tội phạm, sử dụng, tàng trữ, mua bán các chất ma túy, đánh bạc, chứa chấp, môi giới mại dâm và các hành vi vi phạm pháp luật khác.

Do đó, theo nguyên tắc công dân được làm những gì pháp luật không cấm, nam nữ có quyền ở chung phòng và cũng không phải có giấy đăng ký kết hôn mới được ở chung phòng khách sạn. Như vậy, trường hợp của bạn ở chung phòng khách sạn mà không có giấy đăng ký kết hôn thì không vi phạm pháp luật về vấn đề này.

 

Give a Comment