Nhắn tin, gọi điện tình cảm với người đã có gia đình có phải ngoại tình không?

Nhắn tin, gọi điện tình cảm với người đã có gia đình có phải ngoại tình không?

Ngoại tình đã tồn tại rất lâu từ khi hôn nhân ra đời. Phần lớn mọi người đều cho rằng ngoại tình là đáng lên án và là điều không thể chấp nhận được. Ngày nay với sự hiện đại hóa công nghệ thông tin và xã hội thì ngoại tình phải chăng chỉ bó buộc trong khuôn khổ tình dục không hay nó còn đa dạng hơn nữa bằng các “hình thức giao tiếp không phù hợp” với người khác giới ở đây có thể là những tin nhắn tình cảm, ánh mắt liếc đưa tình, câu nói đong đưa, ngã ý với nhau…Vậy hành vi nhắn tin, gọi điện tình cảm với người đã có gia đình có phải ngoại tình?

Ngoại tình là gì?

Ngoại tình là ngoại tình nói nôm na là có tình ngoài, nói rõ ra là có sự cảm thông, quan tâm, chia sẻ, tình yêu, tình dục… với người mà ta không có quan hệ hôn nhân. Tuy nhiên, khái niệm này với thười đại ngày nay có hẹp quá hay không? theo tôi chưa hẳn chạm đến tình dục mới cho nó là ngoại tình, nó còn thể hiện qua những hình thức giao tiếp không phù hợp nào với cô gái mà bạn tơ tưởng đã là ngoại tình rồi.“Hình thức giao tiếp không phù hợp” ở đây có thể là những tin nhắn gợi dục, ánh mắt liếc đưa tình, câu nói đong đưa, mời gọi…

Ngoại tình có vi phạm pháp luật không?

Ngoại tình là khái niệm không có quy định cụ thể trong pháp luật Việt Nam. Thay vào đó chỉ có việc vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng mà thôi.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

“2. Cấm các hành vi sau đây:

a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;”

Thế nào là vi phạm hôn nhân chế độ 1 vợ một chồng?

Căn cứ theo Điều 182 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 hành vi vi phạm chế độ 1 vợ 1 chồng là hành vi mà người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ.

Vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng bị phạt thế nào?

Về Xử phạt vi phạm hành chính:

Khi phát hiện hành vi ngoại tình của người chồng hoặc người vợ, thì họ có thể làm đơn tố cáo hành vi vi phạm đến Ủy ban nhân dân xã, Cơ quan cảnh sát điều tra-công an quận huyện. Theo đó, sau khi tố cáo hành vi vợ hoặc chồng ngoại tình, Ủy ban nhân dân xã hoặc cơ quan nhận đơn tố cáo sẽ tiến hành xác minh việc tố cáo và hành vi bị tố cáo. Nếu xác định hành vi đó có thật thì Ủy ban nhân dân xã sẽ căn cứ theo mức độ và đưa ra mức độ xử phạt căn cứ theo Khoản 1 Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP:

“1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;”

Như vậy, về việc vợ hoặc chồng ngoại tình hoặc có hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng theo quy định của pháp luật thì sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Khoản 1 Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP. Những hành vi này sẽ bị xử phạt hành chính, phạt tiền từ 1.000.000 đồng tới 3.000.000 đồng, tùy theo mức độ vi phạm và tái phạm sẽ có mức phạt khác nhau.

Và có thể chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 182 Bộ luật hình sự 2015:

“Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.”

Hiện nay pháp luật chưa có chế tài hành chính để xử lý hành vi hành vi nhắn tin, gọi điện tình cảm với người đã có gia đình. Đồng thời xét về trách nhiệm hình sự thì hành vi này không đủ căn cứ cấu thành tội phạm về vi phạm chế độ hôn nhân 1 vợ 1 chồng. Nên hành vi nhắn tin, gọi điện tình cảm với người đã có gia đình được nêu trên không phải là hành vi vi phạm pháp luật nhưng xét trên phương diện đạo đức giữa con người với nhau thì hành vi này đáng phê phán và lên án. Bởi lẽ nó là dấu hiệu của sự ngoại tình mà trong hôn nhân không một người vợ hoặc người chồng nào mong muốn xảy ra đối với đối phương của mình.

>>> Gửi câu hỏi hỏi đáp luật hôn nhân và gia đình cho luật sư

Give a Comment