Câu hỏi:

Tôi muốn tìm hiểu quy định của pháp luật về liên kết kinh doanh. Nghĩa là điều kiện của các bên khi tham gia liên kết, nhưng không tìm thấy. Rất mong luật sư dành thời gian tư vấn. Xim chân thành cám ơn?

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục tư vấn luật đầu tư của chúng tôi, với yêu cầu tư vấn của bạn chúng tôi giải đáp như sau:

Theo quy định tại khoản 9 Điều 3 Luật đầu tư 2014:

“9. Hợp đồng hợp tác kinh doanh (sau đây gọi là hợp đồng BCC) là hợp đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế.”

Đồng thời theo quy định tại Điều 28 Luật đầu tư 2014 về đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC:

“1. Hợp đồng BCC được ký kết giữa các nhà đầu tư trong nước thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.

2. Hợp đồng BCC được ký kết giữa nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài hoặc giữa các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định tại Điều 37 của Luật này.

3. Các bên tham gia hợp đồng BCC thành lập ban điều phối để thực hiện hợp đồng BCC. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ban điều phối do các bên thỏa thuận.”

Và Điều 29 Luật đầu tư 2014 quy định về nội dung hợp đồng BCC:

“1. Hợp đồng BCC gồm những nội dung chủ yếu sau đây:

a) Tên, địa chỉ, người đại diện có thẩm quyền của các bên tham gia hợp đồng; địa chỉ giao dịch hoặc địa chỉ nơi thực hiện dự án;

b) Mục tiêu và phạm vi hoạt động đầu tư kinh doanh;

c) Đóng góp của các bên tham gia hợp đồng và phân chia kết quả đầu tư kinh doanh giữa các bên;

d) Tiến độ và thời hạn thực hiện hợp đồng;

đ) Quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng;

e) Sửa đổi, chuyển nhượng, chấm dứt hợp đồng;

g) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, phương thức giải quyết tranh chấp.

2. Trong quá trình thực hiện hợp đồng BCC, các bên tham gia hợp đồng được thỏa thuận sử dụng tài sản hình thành từ việc hợp tác kinh doanh để thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.

3. Các bên tham gia hợp đồng BCC có quyền thỏa thuận những nội dung khác không trái với quy định của pháp luật.”

Có thể thấy, pháp luật không quy định cụ thể về điều kiện của các bên khi tham gia vào hợp đồng hợp tác kinh doanh mà điều này là do hai bên có nhu cầu sẽ tự thỏa thuận với nhau. Trừ trường hợp nếu hợp tác kinh doanh với một bên là doanh nghiệp nước ngoài thì có điều kiện bắt buộc là phải xin phép cấp giấy chứng nhận đầu tư vào trong nước.

Was this article helpful to you?

Thủy Phạm

Leave a Reply