Quyền lợi NLĐ được hưởng trong thời gian thử việc

Quyền lợi NLĐ được hưởng trong thời gian thử việc

Câu hỏi

Em là sinh viên mới ra trường, đi làm cho 1 công ty xây dựng. Sau 1 tháng thử việc từ 23/3-22/4/2018, công ty có hẹn ngày lên thỏa thuận ký hợp đồng chính thức. Tuy nhiên ngày 29/4/2018 em tự ý nghỉ việc. Vậy em có được phép nhận tiền lương thử việc không ạ?

1. Cơ sở pháp lý:

– Bộ luật Lao động 2012

2. Luật sư tư vấn:

Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây:

– Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;

– Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.

– Không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác.

Theo đó, quyền lợi NLĐ được hưởng trong thời gian thử việc như sau: được trả lương trong thời gian thử việc (do hai bên thoả thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó), được quy định cụ thể về thời gian làm việc và được trang bị bảo hộ lao động.

Theo thông tin anh cung cấp, anh đã tự ý nghỉ việc nên sẽ được xác định là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Khi chấm dứt hợp đồng lao động, nghĩa vụ của người sử dụng lao động là:

” 2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.”

Theo đó, trong thời hạn từ 7 ngày đến 30 ngày từ lúc anh nghỉ việc thì công ty phải có nghĩa vụ thanh toán nốt tiền lương cho anh trong thời gian anh thử việc. Tức là công ty vẫn phải thanh toán tiền lương thử việc cho anh dù anh đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

Theo thông tin anh cung cấp, anh đã tự ý nghỉ việc nhưng anh không nói rõ lý do xin nghỉ việc của anh nên sẽ có các trường hợp sau:

Trường hợp 1: Nếu hợp đồng lao động của anh là hợp đồng lao động không xác định thời hạn thì không cần đưa ra lý do nghỉ việc nhưng anh phải báo trước cho công ty 45 ngày. Tuy nhiên anh đã tự ý nghỉ việc nên anh đã vi phạm về thời hạn báo trước nên theo Khoản 2 Điều 43 Bộ luật Lao động 2012: “Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.”

Trường hợp 2: Nếu hợp đồng lao động của anh là hợp đồng lao động xác định thời hạn thì để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật, lý do xin nghỉ việc của anh phải thuộc các trường hợp sau:

– Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

– Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

– Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

– Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

– Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

– Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

Đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn, thời hạn báo trước được quy định theo Khoản 2 Điều 37 Bộ luật Lao động như sau:

” Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;”

Trong trường hợp anh đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật thì anh vẫn vi phạm về thời hạn báo trước và phải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Trường hợp 3: Hợp đồng lao động của anh là hợp đồng lao động xác định thời hạn và anh đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật (lý do nghỉ việc không thuộc các trường hợp kể trên) thì theo Điều 43 Bộ luật Lao động 2012:

” 1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.”

Và trong trường hợp này anh vẫn vi phạm về thời hạn báo trước và phải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Give a Comment