Câu hỏi:

Vừa qua anh hàng xóm rủ tôi đi đổi tiền đôla ở tiệm vàng về để khoan giếng, tôi có đi cùng, anh hàng xóm có 10 tờ mệnh giá 100 usd/tờ anh đưa cho tôi đi đổi 5 tờ, còn anh ấy đổi 5 tờ, tôi có hỏi đây là tiền thật hay tiền giả? Anh ấy trả lời tôi là anh đã kiểm tra ở tiệm vàng rồi tiền thật đó. Tôi tin vậy thế là đi đổi ở tiệm vàng, tôi có bảo tiệm vàng là kiểm tra dùm và đổi, tiệm vàng kiểm tra một hồi sau đó lấy tiền Việt đổi cho tôi. Sau đó 9 tháng cả tôi và anh ấy đều bị công an tỉnh triệu tập lên lẩy lời khai, công an cho biết đó là tiền giả, tôi đã thành khẩn khai sự việc cho công an, tôi được thả về còn anh hàng xóm thì bỉ công an tạm giam để điều tra. Tôi xin hỏi luật sư xem tôi có mắc tội gì không? Tôi đã khai hết sự thật cho công an rồi, tôi lo lắng quá!

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục tư vấn luật hình sự của chúng tôi,  với trường hợp của bạn chúng tôi giải đáp như sau:

Theo Điều 180 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung 2009 quy định như sau:

“Điều 180. Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả

1. Người nào làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm.

2. Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

3. Phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Theo Điều 3 Phần 1 Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP quy định như sau:

“3. Việc xác định trị giá tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả để buộc người làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 180 Bộ luật Hình sự

Tiền giả bao gồm tiền Việt Nam đồng giả và ngoại tệ giả; ngân phiếu giả, công trái giả bao gồm ngân phiếu, công trái giả ngân phiếu, công trái của Việt Nam hoặc của nước ngoài phát hành, nhưng có giá trị thanh toán tại Việt Nam.

3.1. Đối với tội làm tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả (sau đây gọi chung là tiền giả):

a. Nếu tiền giả có trị giá tương ứng dưới ba triệu đồng tiền Việt Nam thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 180 Bộ luật Hình sự;

b. Nếu tiền giả có trị giá tương ứng từ ba triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng tiền Việt Nam thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 180 Bộ luật Hình sự;

c. Nếu tiền giả có trị giá tương ứng từ năm mươi triệu đồng tiền Việt Nam trở lên thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 3 Điều 180 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên cần phân biệt:

– Nếu tiền giả có trị giá tương ứng từ năm mươi triệu đồng đến dưới một trăm triệu đồng tiền Việt Nam là thuộc trường hợp rất nghiêm trọng;

– Nếu tiền giả có trị giá tương ứng từ một trăm triệu đồng tiền Việt Nam trở lên là thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.

3.2. Đối với tội tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả (sau đây gọi chung là tiền giả):

a. Nếu tiền giả có trị giá tương ứng dưới mười triệu đồng tiền Việt Nam thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 180 Bộ luật Hình sự;

b. Nếu tiền giả có trị giá tương ứng từ mười triệu đồng đến dưới một trăm triệu đồng tiền Việt Nam thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 180 Bộ luật Hình sự;

c. Nếu tiền giả có trị giá tương ứng từ một trăm triệu đồng tiền Việt Nam trở lên thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 3 Điều 180 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên cần phân biệt:

– Nếu tiền giả có trị giá tương ứng từ một trăm triệu đồng đến dưới một trăm năm mươi triệu đồng tiền Việt Nam là thuộc trường hợp rất nghiêm trọng;

– Nếu tiền giả có trị giá tương ứng từ một trăm năm mươi triệu đồng tiền Việt Nam trở lên là thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.

3.3. Đối với người nhiều lần làm hoặc tàng trữ hoặc vận chuyển hoặc lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả thì cần phải lấy tổng số lượng tiền giả của tất cả các lần phạm tội cộng lại để xem xét trách nhiệm hình sự đối với họ; nếu trong các lần phạm tội đó có trường hợp đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì không xem xét trách nhiệm hình sự đối với trường hợp đó (không cộng số lượng tiền giả của lần phạm tội đó); nếu có hai lần phạm tội làm hoặc tàng trữ hoặc vận chuyển hoặc lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả trở lên thì ngoài việc cộng số lượng tiền giả của các lần phạm tội để xem xét trách nhiệm hình sự đối với họ, còn phải áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự.”

Các yếu tố cấu thành tội phạm:

Khách thể của tội phạm:  Xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước đối với việc vận chuyển, lưu hành tiền, ngân phiếu và công trái.

Chủ thể của tội phạm: Chủ thể thường, là người đạt độ tuổi luật định và có năng lực trách nhiệm hình sự.

Mặt khách quan của tội phạm: Là hành vi mua đi bán lại các đối tượng đó dưới bất kì hình thức nào như mua bán theo nghĩa thông thường, trao đổi, thanh toán bằng tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả….

Tội phạm này không đòi hỏi dấu hiệu hậu quả là cấu thành tội phạm, chỉ cần người phạm tội thực hiện một trong các hành vi kể trên sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này.

Mặt chủ quan của tội phạm: Được thưc hiện với lỗi cố ý.

Theo thông tin mà bạn trình và theo quy định của pháp luật. Cụ thể mục theo Mục 3 phần I Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP quy định người làm, tang trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả hoặc công trái giả mà có giá trị dưới ba triệu đồng thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 180 Bộ luật hình sự, sửa đổi, bổ sung 2009 là từ ba năm đến bảy năm tù, nếu tiền giả có giá trị từ ba triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng thì người phạm tội sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 180 Bộ luật hình sự, sửa đổi, bổ sung 2009 tức là từ năm năm đến mười hai năm tù, nếu tiền giả có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm theo quy định tại khoản 3 Điều 180 Bộ luật hình sự sửa, đổi bổ sung 2009 bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân..

Người có hành vi vi phạm ngoài việc bị áp dụng các hình thức xử phạt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 của Điều 180 Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung 2009 thì người vi phạm còn có thể phải áp dụng hình phat tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản trong trường hợp này.

Trường hợp bạn trình bày bạn không biết số tiền ngoại tệ là giả thì sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lưu hành tiền giả.