Trách nhiệm cấp dưỡng cho con ngoài giá thú được pháp luật quy định như thế nào?

Trách nhiệm cấp dưỡng cho con ngoài giá thú được pháp luật quy định như thế nào?

Cho tôi hỏi vấn đề sau: Cách đây 3 tháng, chị tôi lấy  chồng  thì mới phát hiện chồng chị đã từng quan hệ với 1 người phụ nữ và rồi người phụ nữ đó đã có thai. Chồng  chị cũng đã chu cấp để cô ấy nuôi con nhưng không cưới cô ấy  đến khi biết vợ chồng chị cưới nhau thì chị ấy tống tiền chồng chị. Vì chồng chị sợ chị  biết nên đã đưa tiền cho chị ấy giờ thì chị ấy đòi kiện ra tòa, làm chồng chị xấu hổ nơi cơ quan , rồi đòi đưa đứa bé cho chồng chị  nuôi nhưng chồng chị không chịu. Vậy thưa chuyên mục, trong trường hợp trên thì vợ chồng chị phải làm thế nào? Mong chuyên mục giải đáp giúp ạ. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục của chúng tôi, với trường hợp của bạn chúng tôi giải đáp như sau:

Theo quy định tại Luật hôn nhân và gia đình 2014:

Điều 88. Xác định cha, mẹ

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.

Theo quy định tại Luật hôn nhân và gia đình 2014 về thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ cho con:

Điều 101. Thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con

1. Cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp

2. Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp quy định tại Điều 92 của Luật này.
Quyết định của Tòa án về xác định cha, mẹ, con phải được gửi cho cơ quan đăng ký hộ tịch để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch; các bên trong quan hệ xác định cha, mẹ, con; cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Trường hợp có tranh chấp:Trường hợp mà một trong các bên không công nhận mối quan hệ huyết thống cha, mẹ, con thì người có yêu cầu xác định cha, mẹ, con buộc phải làm hồ sơ khởi kiện yêu cầu tòa án xác nhận cha, mẹ, con. Theo quy định tại Luật tố tụng dân sự 2015 tòa án nơi chồng bạn cư trú theo quy định tại Điều 39 thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ về giải quyết các tranh chấp hôn nhân gia đình, cụ thể là xác định cha mẹ cho con tại khoản 4 Điều 28 Luật tố tụng dân sự 2015.

“Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;”

Hồ sơ bao gồm:

– Đơn khởi kiện yêu cầu xác định cha, mẹ con;

– Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của các bên;

– Giấy tờ chứng minh rằng giữa người yêu cầu và người bị yêu cầu có quan hệ cha, mẹ, con;

Như vậy, việc người phụ nữ kia đòi kiện chồng chị  bạn ra tòa,tố cáo với cơ quan là không trái pháp luật và nếu như tòa công nhân xác định quan hệ cha con giữa chồng chị bạn và đứa trẻ đó thì quan hệ cấp dưỡng, nuôi dưỡng của chồng chị bạn với đứa con sẽ phát sinh.

Trên đây là ý kiến giải đáp của chúng tôi về câu hỏi của bạn. Việc đưa ra nội dung nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do người hỏi cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Give a Comment