Tìm kiếm một câu hỏi?

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào? bạn có thể tìm kiếm ở bên dưới hoặc nhập những gì bạn đang muốn tìm kiếm!

Tranh chấp về việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa

Câu hỏi:

Công ty tôi và cty ông B có phát sinh tranh chấp về việc thực hiện hớp đồng mua bán hàng hóa. tôi đang phân vân nên thương lượng hay khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết. mong luật sư hãy tư vấn cho tôi để tôi biết nên thương lượng hay khởi kiện là hớp lí nhất.?

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục tư vấn luật doanh nghiệp của chúng tôi, với yêu cầu tư vấn của bạn chúng tôi giải đáp như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

– Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Luật sư tư vấn:

Trước hết là biện pháp thương lượng để các bên tự dàn xếp tranh chấp. Nếu hai bên có tranh chấp không tự hòa giải được, phải có bên thứ ba tham gia thì đó là biện pháp hòa giải. Hòa giải là việc thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt tranh chấp, xung đột một cách ổn thoả, mỗi bên nhượng bộ một ít. Để có sự thỏa hiệp thì việc giải quyết tranh chấp giữa hai bên cần phải thông qua sự can thiệp của bên thứ ba, hoạt động một cách trung lập và khuyến khích các bên xóa bớt sự khác biệt.

Để đạt được sự hòa giải thành công cần: Thứ nhất là sự thống nhất giữa các bên để giải quyết tranh chấp thông qua việc mỗi bên nhượng bộ lẫn nhau; Thứ hai là trong quá trình hòa giải phải có sự tham gia của bên thứ ba trung lập để cho ý kiến tư vấn, đồng thời chứng kiến sự hòa giải thành công giữa các bên trong tranh chấp. Nếu không có sự tham gia của bên thứ ba thì quá trình này không gọi là hòa giải mà là thương lượng. Nếu hai bên không thương lượng, hòa giải được với nhau thì để giải quyết tranh chấp thì sẽ phải bằng biện pháp hành chính hoặc tòa án. Tuy nhiên, dù thương hay khởi kiện đều có những ưu, nhược điểm riệng:

1.Thương lượng

Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua việc các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, dàn xếp để tháo gỡ những bất đồng phát sinh nhằm loại bỏ tranh chấp mà không cần có sự giúp hay phán quyết của bên thứ ba. Hình thức giải quyết tranh chấp này có đặc điểm sau:

+ Các bên tranh chấp sẽ tự thỏa thuận để tìm kiếm giải pháp trên tinh thần tự nguyện, thiện chí, hợp tác mà không có sự tham gia của bất kỳ bên thứ ba nào. Khi tiến hành thương lượng, các bên có thể trình bày quan niệm của mình, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tranh chấp và tìm kiếm giải pháp chấm dứt xung đột. Tuy nhiên, cũng có thể xảy ra trường hợp các bên không đạt được thỏa thuận nào nhằm giải quyết tranh chấp đã phát sinh mà có thể làm cho chũng trở nên trầm trọng hơn hoặc làm phát sinh nhiều tranh chấp khác. Trong những trường hợp thương lượng không thành công như vậy, các bên có thể tiếp tục lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp khác phù hợp để giải quyết tranh chấp phát sinh giữa họ.

+ Các bên tự nguyện thi hành phương án giải quyết bất đồng đã lựa chọn. Đây vừa là ưu điểm vữa là hạn chế của phương thức giải quyết tranh chấp này. Ưu điểm là ở chỗ các bên tự nguyện và tự mình đạt được thỏa thuận về phương án giải quyết tranh chấp nên cũng dễ dàng tự mình đạt được thỏa thuận về phương án đó. Tuy nhiên, việc thực hiện két quả thương lượng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện, hợp tác và thiện chí của các bên. Mặc dù kết quả thương lượng thường được ghi nhận bằng văn bản với tính chất như một thỏa thuận hợp pháp về giải quyết tranh chấp đã phát sinh nhưng thỏa thuận đó không có giá trị bắt buộc thi hành trong trường hợp một bên không tự nguyện thực hiện những diều khoản đã cam kết trong thỏa thuận. Khi đó tính tự nguyện thi hành của phương án giải quyết tranh chấp mà không có sự hỗ trợ của bê thứ ba có quyền lực pháp định sẽ trở thành hạn chế của phương thức giải quyết tranh chấp này.

– Ưu điểm nổi bật của phương thức giải quyết này là sự thuận tiện, đơn giản, nhanh chóng, tính linh hoạt, hiệu quả và ít tốn kém. Mặt khác, giải quyết tranh chấp bằng thương lượng còn bảo vệ uy tín cho các bên tranh chấp cũng như bí mật kinh doanh của các nhà kinh doanh. Các nhà kinh doanh hơn ai hết tự biết bảo vệ quyền lợi của bản thân, hiểu rõ những bất đồng và nguyên nhân phát sinh tranh chấp nên quá trình đàm phán, thương lượng dễ hiểu và cảm thông với nhau hơn để có thể thỏa thuận các giải pháp tối ưu theo nguyện vọng mỗi bên mà không phải cơ quan tài phán nào cũng làm được. Bởi vậy, nếu thương lượng thành công không những các bên đã loại bỏ được những bất đồng phát sinh mà mức độ phương hại đến mối quan hệ kinh doanh giữa các bên cũng thấp, tăng cường sự hiểu biết và hợp tác lẫn nhau trong tương lai.

– Tuy nhiên nó cũng có những hạn chế nhất định. Thương lượng thành công hay không hoàn toàn phụ thuộc vào sự hiểu biết, thái độ thiện chí, hợp tác của các bên. Khi một hoặc các bên thiếu sự hiểu biết về lĩnh vực đang tranh chấp, không nhận thức được vị thế của mình, khả năng thắng thua nếu phải theo đuổi vụ kiện tại cơ quan tài phán hoặc không có thái độ nỗ lực hợp tác, thiếu sự thiện chí, trung thực trong quá trình thương lượng thì khả năng thành công là rất mong manh, kết quả thường bế tắc.

2. Khởi kiện

Chủ thể khởi kiện vụ án dân sự được quy định tại Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự, theo đó chủ thể khởi kiện ở đây được hiểu là các chủ thể được phép tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật (gọi chung là người khởi kiện), bao gồm hai loại là cá nhân và cơ quan, tổ chức. Người khởi kiện phải đáp ứng được đầy đủ hai yêu cầu: có quyền khởi kiện và có năng lực hành vi tố tụng dân sự

– Đánh giá xác suất chiến thắng một vụ kiện bao gồm các yếu tố: 1. đánh giá chứng cứ, khả năng chứng minh yêu cầu khởi kiện; 2.Xác định tin cậy của nhân chứng và tài liệu;

Có rất nhiều cân nhắc rằng đi vào nộp đơn kiện và một trong những cân nhắc chắc chắn là có hay không bạn có thể giành chiến thắng. Trong phạm vi xem xét rằng các hạng mục quan trọng nhất để thảo luận là những gì được gọi là nghĩa vụ chứng minh và có nghĩa là bạn có thể chứng minh yêu cầu của bạn và trong các vụ kiện dân sự nghĩa vụ chứng minh có nghĩa là bạn chỉ cần chứng minh hơn một chút so với phía bên kia một cái gì đó đã xảy ra. Có thể là gian lận, có thể là một thực tế kinh doanh không công bằng. Nó không giống như một vụ án hình sự mà phải có một quá một nghi ngờ hợp lý.

Đây chỉ là những gì được gọi là một ưu thế có nghĩa là chỉ hơn một chút so với phía bên kia. Cũng là rất quan trọng để đánh giá bạn có thể chiến thắng vụ kiện của bạn hay không là những nhân chứng và các tài liệu mà bạn có để hỗ trợ lời khai của các nhân chứng. Vì vậy, trong lĩnh vực mà bạn cần phải xem xét độ tin cậy của các nhân chứng. Dù có hoặc không sẵn sàng để làm chứng thay cho bạn và liên quan đến các tài liệu họ nói gì. Họ đã có chữ ký của bên kia? Ai đó có thể cho bạn biết hay không những là bản sao chính xác của các tài liệu này.

Đánh giá khả năng thu khoản tiền bồi thường: Một cân nhắc thêm là có được hay không, bạn có thể thu được các các khoản bồi thường nếu bạn nhận được một ít. Mong muốn cuối cùng của bất kỳ vụ kiện chủ yếu là yêu cầu một khoản tiền hoặc bồi thường tài sản của bị đơn. Vì vậy, các bên có ý định tiến hành tố tụng cần xem xét liệu các bị cáo có khả năng thi hành án hay không. Nếu không, mục tiêu của người yêu cầu không đạt được, nhưng phải mất thời gian và tiền bạc để kiện. Đây không phải là luôn luôn có thể thực hiện, nhưng nó là hành động không nên bỏ qua khi một bên muốn khởi kiện đòi tiền hoặc tài sản của bên kia.

Trong nhiều trường hợp nguyên đơn thắng, tòa án hoặc trọng tài thương mại buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn, và bản án hoặc quyết định một cách nhanh chóng là hợp lệ vì bị cáo không kháng cáo, kháng nghị hoặc có bất kỳ hành động gây cản trở khác, nhưng bị cáo không có tài sản để thi hành án. Ngoài ra còn có rất nhiều trường hợp bên thua kiện có tài sản nhưng đồng thời nó cũng có nhiều bản án khác được thực thi, các khoản nợ ngân hàng bảo đảm là do nhưng bên đó mất khả năng chi trả. Bên thắng cuối cùng thắng nhưng họ có thể đạt được điều gì, chỉ cần giữ các phán đoán và chờ đợi. Nếu bên thua kiện là cá nhân nước ngoài hoặc tổ chức pháp lý, bên trúng thầu có nguy cơ phải đối mặt với nhiều khó khăn xuất phát từ thi hành án ở nước ngoài. Trong khi đó, bên thắng kiện phải giữ lại dịch vụ pháp lý ở nước ngoài, nhưng các chi phí cho việc này là không tầm thường chút nào.

– Khả năng phản tố: Phản tố là một thực tế trong đó các bị cáo thực hiện các thủ tục tố tụng đối với các nguyên đơn. Các phản tố của bị cáo, nếu được chấp nhận, sẽ cho kết quả trong thanh toán bù trừ nghĩa vụ với các nguyên đơn hoặc không bao gồm tất cả hoặc một phần yêu cầu của nguyên đơn. Phản tố là quyền của bị cáo vì vậy họ thường sử dụng nó, vì vậy điều này có thể gây ra rất nhiều khó khăn cho các nguyên đơn. Trước khi hành khởi kiện, các bên tham gia tố tụng cần phải xem xét cẩn thận các nội dung của hợp đồng, thực hiện hợp đồng, xem xét thông tin, nói chuyện với các bên khác để đánh giá liệu nó có khả năng phản tố hay không, nếu có, thì các vấn đề cụ thể là gì, có hoặc không có phản sẽ làm cho nguyên đơn không thể yêu cầu bất kỳ một phần lợi ích vật chất, hoặc giả định rằng có một số lợi ích có thể được yêu cầu, dù có hoặc không xứng đáng với những gì các nguyên đơn đã chi tiêu.

– So sánh số tiền thu được trong trường hợp chiến thắng với chi phí bỏ ra khả năng lỗ hay lời

Nó là cần thiết để lưu ý các chi phí sẽ phát sinh khi tham gia tố tụng, ngoài chi phí pháp lý hoặc chi phí tòa án, trọng tài. Một khi đã quyết định khởi kiện, nguyên đơn đã chấp nhận các chi phí liên quan đến kiện tụng, nhưng được chấp nhận mà tại đó tỷ lệ này là một câu chuyện khác.

Với việc khởi kiện ra toà hoặc nhờ các cơ quan hành chính giải quyết bằng bản án hoặc quyết định hành chính, thường các bên tranh chấp phải chịu nhiều tổn thất về tài chính, tinh thần và thời gian.

Từ những phân tích trên, bạn có thể cân nhắc để lựa chọn phương án, giải pháp hiệu quả nhất.

Để lại bình luận

avatar
  Theo dõi  
Thông báo của