Trong hộ khẩu là quan hệ vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn có phải ly hôn không?

Trong hộ khẩu là quan hệ vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn có phải ly hôn không?

Xin chào chuyên mục hỏi đáp pháp luật! Tôi có một vấn đề liên quan đến ly hôn mong chuyên mục tư vấn giúp ạ, cụ thể như sau: Trong xóm tôi, nằm bên cạnh nhà tôi có một đôi vợ chồng chung sống với nhau đã được 25 năm, nhưng họ lại không đăng kí kết hôn và họ đã có 3 đứa con chung với nhau.  Trong sổ hộ khẩu tôi thấy có  ghi rõ quan hệ là vợ, chồng.  Trong quá trình chung sống giữa họ có rất nhiều mâu thuẫn với nhau, không hòa hợp được với nhau( người đó sang tâm sự với tôi vì tôi là hàng xóm cảu nhau, chúng tôi chơi thân nên biết rất rõ về nhau và muốn tôi tư vấn giúp nhưng tôi cũng như cô ấy cũng không hiểu rõ luật). Vậy nên muốn chuyên mục giải đáp giúp vấn đề này ạ, với trường hợp trên họ  có cần tòa giải quyết ly hôn không và cần những thủ tục gì?Mong chuyên mục tư vấn giúp ạ. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục của chúng tôi, với trường hợp của bạn chúng tôi giải đáp như sau:

Theo Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP có quy định về xác lập quan hệ hôn nhân như sau:

– Thứ nhất, quan hệ vợ chồng được xác lập trước 03/01/1987 thì được khuyến khích kết hôn, thời điểm này pháp luật công nhận là quan hệ vợ chồng. Có yêu cầu ly hôn thì được Toà án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

– Thứ hai, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ 03/ 01/1987 đến 01/01/2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì trong thời hạn 2 năm kể từ ngày Luật hôn nhân và gia đình 2000 có hiệu lực thì trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.

Từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng;

Thứ ba, từ 01/ 01/ 2001 trở đi, trừ 2 trường hợp trên thì trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Toà án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.

Hiện tại Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã hết hiệu lực được thay thế bởi Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Như vậy, căn cứ vào quy định này của Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP thì trong trường hợp của bạn nêu trên .

– Nếu quan hệ vợ chồng họ được xác lập trước 03/01/1986 thì sẽ được công nhận là vợ chồng. Khi ly hôn thì Toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình.

– Nếu chung sống với như vợ chồng từ 03/01/1986 thì sẽ không được công nhận là vợ chồng. Nếu một trong các bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án để giải quyết và tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng; nếu họ có yêu cầu về nuôi con và chia tài sản, thì Toà án giải quyết về vấn đề con chung và tài sản chung.

Về vấn đề sổ hộ khẩu có ghi rõ là có mối quan hệ là vợ chồng thì sẽ không thể xác định được chính xác được việc 2 người có mối quan hệ là vợ chồng. Bởi vì, có thể do sự thiếu hiểu biết của Cán bộ làm hộ khẩu cho họ đã làm sai. Bạn căn cứ vào quy định của Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP như chúng tôi đã nêu trên để xác lập mối quan hệ của vợ chồng họ.

Về thủ tục ly hôn:

 Nộp hồ sơ ly hôn tới Tòa án nhân dân quận/ huyện.

Hồ sơ bao gồm như sau:

– Đơn yêu cầu công nhận thuận tình xin ly hôn (đối với trường hợp ly hôn thuận tình);

– Đơn xin ly hôn (đối với trường hợp ly hôn đơn phương);

– Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

– Giấy khai sinh của con (bản chính);

– Sổ hộ khẩu của vợ, chồng (bản sao có chứng thực) (nếu có);

– Chứng minh nhân dân của vợ, chồng (bản sao có công chứng);

– Giấy tờ chứng minh về tài sản chung (nếu có);

Trên đây là ý kiến giải đáp của chúng tôi về câu hỏi của bạn. Việc đưa ra nội dung nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do người hỏi cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

One Response

  1. Vượng 15/01/2019

Give a Comment