Câu hỏi:

Bảo đảm thực hiện hợp đồng chỉ có giá trị trong thời gian thực hiện hợp đồng, Nội dung hợp đồng không quy định về Bảo đảm thực hiện hợp đồng như ở điều cuối của hợp đồng: Hiệu lực hợp đồng, có đề cập đến “Hợp đồng có hiệu lực kể từ ngày ký và bên B đã nộp bảo đảm thực hiện hợp đồng” Sau khi ký hợp đồng, bên B đã triển khai thực hiện và hoàn thành trước thời hạn, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trong nội dung hợp đồng về hàng hóa, chất lượng hàng hóa và các yêu cầu liên quan khác. Theo đó hai bên đã ký biên bản nghiệm thu làm căn cứ cho bên B xuất hóa đơn GTGT. Căn cứ Biên bản nghiệm thu và Hóa đơn GTGT, hai bên cũng đã tiến hành ký biên bản thanh lý hợp đồng. Tại biên bản thanh lý hợp đồng hai bên đã thống nhất về nghĩa vụ thanh toán của bên A và nghĩa vụ bảo hành của bên B. Tuy nhiên sau khi hoàn tất các biên bản, bộ phận kế toán của bên A không chấp nhận thanh toán hợp đồng với lý do không có tài liệu chứng minh đã nộp Bảo đảm thực hiện hợp đồng. Vậy lúc này, hợp đồng có bị coi là vô hiệu và bên A có quyền trả lại hàng hóa cho bên B không ? Nếu bên A không có quyền tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì bên B có quyền khiếu nại về việc không thanh toán hợp đồng cho bên B ? Kính mong nhận được tư vấn của luật sư?

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục tư vấn luật đấu thầu của chúng tôi, với yêu cầu tư vấn của bạn chúng tôi giải đáp như sau:

Thứ nhất, bảo đảm thực hiện hợp đồng là việc bên nhận thầu thực hiện một trong các biện pháp đặt cọc, ký quỹ hoặc nộp thư bảo lãnh để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mình trong thời gian thực hiện hợp đồng. Bảo đảm thực hiện hợp đồng phải được nộp cho bên giao thầu trước thời điểm hợp đồng có hiệu lực, được bên giao thầu chấp nhận và phải kéo dài cho đến khi chuyển sang thực hiện nghĩa vụ bảo hành; trừ hợp đồng tư vấn xây dựng và những hợp đồng xây dựng theo hình thức tự thực hiện.

Trường hợp bên nhận thầu là nhà thầu liên danh thì từng thành viên phải nộp bảo đảm thực hiện hợp đồng cho bên giao thầu, mức bảo đảm tương ứng với tỷ lệ giá trị hợp đồng mà mỗi thành viên thực hiện. Nếu liên danh có thoả thuận nhà thầu đứng đầu liên danh nộp bảo đảm thực hiện hợp đồng thì nhà thầu đứng đầu liên danh nộp bảo đảm cho bên giao thầu, từng thành viên nộp bảo đảm thực hiện hợp đồng cho nhà thầu đứng đầu liên danh tương ứng với giá trị hợp đồng do mình thực hiện, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Bảo lãnh tạm ứng hợp đồng (trường hợp các bên thỏa thuận phải có bảo lãnh tiền tạm ứng):

a) Trước khi bên giao thầu thực hiện việc tạm ứng hợp đồng cho bên nhận thầu, thì bên nhận thầu phải nộp cho bên giao thầu bảo lãnh tạm ứng hợp đồng với giá trị tương đương khoản tiền tạm ứng; trường hợp bên nhận thầu là liên danh các nhà thầu thì từng thành viên trong liên danh phải nộp cho bên giao thầu bảo lãnh tạm ứng hợp đồng với giá trị tương đương khoản tiền tạm ứng cho từng thành viên;

b) Giá trị của bảo lãnh tạm ứng hợp đồng sẽ được khấu trừ tương ứng với phần giá trị giảm trừ tiền tạm ứng qua mỗi lần thanh toán theo thoả thuận của các bên.

Thứ hai, căn cứ quy định tại Điều 66 Bảo đảm thực hiện hợp đồng Luật đấu thầu 2013 như sau:

“1. Bảo đảm thực hiện hợp đồng được áp dụng đối với nhà thầu được lựa chọn, trừ nhà thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, nhà thầu được lựa chọn theo hình thức tự thực hiện và tham gia thực hiện của cộng đồng.

2. Nhà thầu được lựa chọn phải thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng trước thời điểm hợp đồng có hiệu lực.

3. Căn cứ quy mô, tính chất của gói thầu, giá trị bảo đảm thực hiện hợp đồng được quy định trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu theo mức xác định từ 2% đến 10% giá trúng thầu.

4. Thời gian có hiệu lực của bảo đảm thực hiện hợp đồng tính từ ngày hợp đồng có hiệu lực cho đến ngày các bên hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc ngày chuyển sang thực hiện nghĩa vụ bảo hành đối với trường hợp có quy định về bảo hành. Trường hợp cần gia hạn thời gian thực hiện hợp đồng, phải yêu cầu nhà thầu gia hạn tương ứng thời gian có hiệu lực của bảo đảm thực hiện hợp đồng.

5. Nhà thầu không được hoàn trả bảo đảm thực hiện hợp đồng trong trường hợp sau đây:

a) Từ chối thực hiện hợp đồng khi hợp đồng đã có hiệu lực;

b) Vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng;

c) Thực hiện hợp đồng chậm tiến độ do lỗi của mình nhưng từ chối gia hạn hiệu lực của bảo đảm thực hiện hợp đồng.”

Bên nhận thầu không được nhận lại bảo đảm thực hiện hợp đồng trong trường hợp từ chối thực hiện hợp đồng sau khi hợp đồng có hiệu lực và các trường hợp vi phạm được quy định trong hợp đồng. Bên giao thầu phải hoàn trả cho bên nhận thầu bảo đảm thực hiện hợp đồng khi bên nhận thầu đã chuyển sang nghĩa vụ bảo hành và bên giao thầu đã nhận được bảo đảm bảo hành.

Tại biên bản thanh lý hợp đồng hai bên đã thống nhất về nghĩa vụ thanh toán của bên A và nghĩa vụ bảo hành. Tuy nhiên nếu không thuộc trường hợp nhà thầu cung cấp dịch vụ tư vấn thì thỏa thuận của các bên là trái với quy định pháp luật và hợp đồng có thể bị coi là vô hiệu, bên A có quyền trả lại hàng hóa cho bên B.