Trách nhiệm pháp lý của người chứng thực giao dịch mua bán quyền sử dụng đất như thế nào?

Trách nhiệm pháp lý của người chứng thực giao dịch mua bán quyền sử dụng đất như thế nào?

Xin chào chuyên mục! Tôi có một vấn đề muốn chuyên mục tư vấn giúp tôi, cụ thể như sau: Bố tôi  là chủ tịch UBND xã A ở Huyện B, tỉnh C. Ngày 1 tháng 5 năm 2012 có xác nhận chứng thực 1 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Trong nội dung hợp đồng có 1 điều khoản đó là Điều 6 Cam đoan của các bên : Hai bên chịu trách nhiệm trước pháp luật về những lời cam đoan sau đây:

1. Bên A cam đoan:

– Những thông tin về nhân thân và về quyền sử dụng đất đã nêu trong hợp đồng này là đúng sự thật;

– Tính đến thời điểm giao kết Hợp đồng;

+ Quyền sử dụng đất nói trên chưa tham gia bất cứ một giao dịch nào: Không tặng cho, hứa bán, cho thuê, cho mượn, cầm cố, đặt cọc, thế chấp, góp vốn hoặc uỷ quyền.

+ Quyền sử dụng đất không có tranh chấp, được phép chuyển nhượng theo quy định của pháp luật;

+ Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

+ Quyền sử dụng đất không bị quy hoạch hoặc thuộc trường hợp bị giải phóng mặt bằng.

– Có trách nhiệm tạo mọi điều kiện cho bên B hoàn tất các thủ tục có liên quan đến việc đăng ký sang tên quyền sử dụng đất tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

2. Bên B cam đoan:

– Những thông tin về nhân thân mà Bên B cung cấp ghi trong hợp đồng là đúng sự thật;

– Bên B đã xem xét kỹ, biết rõ về thửa đất nêu tại Điều 1 của Hợp đồng này cùng các giấy tờ về quyền sử dụng đất;

3. Hai bên cam đoan:

– Đảm bảo tính chính xác, trung thực và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu có sự giả mạo về hồ sơ, giấy tờ cung cấp cũng như các hành vi gian lận hay vi phạm pháp luật khác liên quan tới việc ký kết hợp đồng này;

– Việc giao kết Hợp đồng này hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, không bị ép buộc;

– Thực hiện đúng và đầy đủ các thoả thuận đã ghi trong Hợp đồng này.

Nhưng đến ngày 10 tháng 3 năm 2016  bố tôi nhận 1 đơn kiện, đối với bên chuyển nhượng là năm 2006 bên chuyển nhượng đã có viết tay 1 bản giấy chuyển nhượng đất ở cho 1 người khác và có xác nhận của UBND xã bố tôi. Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất  được cấp năm 2000,được đưa cầm cố tài sản tại ngân hàng từ năm 2003 đến năm 2009. Vậy cho tôi hỏi , bố tôi phải xử lý cái hợp đồng chuyển nhượng bố tôi đã chứng thực đó như thế nào? Trách nhiệm pháp lý  mà bố tôi phải chịu như thế nào? Mong chuyên mục giải đáp giúp ạ. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục hỏi đáp pháp luật của chúng tôi, với trường hợp của bố bạn chúng tôi giải đáp như sau:

Căn cứ theo khoản 6 Điều 2 Nghị định 79/2007/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký:

 “Chứng thực chữ ký” là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 5 của Nghị định này chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản là chữ ký của người đã yêu cầu chứng thực.”

Căn cứ theo khoản 2 Điều 3 Nghị định 79/2007/NĐ-CP về Giá trị pháp lý của bản sao được cấp từ sổ gốc, bản sao được chứng thực từ bản chính, chữ ký được chứng thực:

“Chữ ký được chứng thực theo quy định tại Nghị định này có giá trị chứng minh người yêu cầu chứng thực đã ký chữ ký đó, là căn cứ để xác định trách nhiệm của người ký về nội dung của giấy tờ, văn bản.”

Trong trường hợp của bố bạn, bố  bạn là chủ tịch UBND xã A, ngày 01 tháng 5 năm 2012 có xác nhận chứng thực 1 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Nhưng đến ngày 10 tháng 3 năm 2016 bố bạn nhận 1 đơn kiện, đối với bên chuyển nhượng là năm 2006 bên chuyển nhượng đã có viết tay 1 bản giấy chuyển nhượng đất ở cho 1 người khác và có xác nhận của UBND xã bạn (giấy CNQSDĐ được cấp năm 2000, cầm cố tài sản tại ngân hàng từ năm 2003 đến năm 2009).

Như vậy, vào thời điểm bố bạn chứng thực hợp đồng chuyển nhượng là ngày 1/5/2012, Nghị định 79/2007/NĐ-CP có hiệu lực pháp luật và điều chỉnh trực tiếp vấn đề này. Theo đó, nghĩa vụ của bố bạn trong trường hợp này là chứng thực chữ ký trên hợp đồng chuyển nhượng đó đúng là chữ ký của hai bên: bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng. Bố bạn không có nghĩa vụ phải chứng thực về nội dung của hợp đồng. Phần nội dung này do hai bên ký hợp đồng hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Căn cứ theo khoản 1 Điều 22 Nghị định 79/2007/NĐ-CP về xử lý vi phạm trong hoạt động chứng thực:

“Trong khi thi hành nhiệm vụ, quyền hạn về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, người thực hiện nhiệm vụ do thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc cố ý làm trái các quy định của Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật khác thì tuỳ theo mức độ vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.”

Trong quá trình thực hiện chứng thực,bố bạn đã hoàn thành thủ tục chứng nhận chữ ký và xác nhận tính hợp pháp của chữ ký của bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng. Việc xác nhận chữ ký này không có sai sót gì. Phần nội dung hợp đồng không thuộc phạm vi trách nhiệm của bố bạn, do đó, bố bạn không có lỗi và không phải chịu trách nhiệm pháp lý trong trường hợp này.

Trên đây là ý kiến giải đáp của chúng tôi về câu hỏi của bạn. Việc đưa ra nội dung nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do người hỏi cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Give a Comment