Luật đặc xá năm 2016 có gì khác?

Luật đặc xá năm 2016 có gì khác?

Xin chào chuyên mục hỏi đáp pháp luật! Tôi xin được chuyên mục tư vấn về luật đặc xá của năm nay có gì khác với các quy định của những năm trước không. Bạn tôi bị phạm tội hình sự ở tuổi vị thành niên đã chấp hành phạt tù  đủ 1/2  thời gian nhưng trong thời gian thực hiên án phạt đã được đánh giá cải tạo khá. Vậy cho tôi hỏi, bạn tôi có được hưởng đặc xá năm 2016 không và nếu được thì cần những thủ tục cụ thể như thế nào mong chuyên mục gải đáp giúp tôi, tôi xin cảm ơn!

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục hỏi đáp pháp luật của chúng tôi,  với trường hợp của bạn chúng tôi giải đáp như sau:

Từ năm 2007 đến nay, chúng ta chỉ sử dụng một văn bản luật chuyên ngành duy nhất về vấn đề đặc xá là luật Đặc xá năm 2007. Như vây, về cơ bản các quy định về đặc xá của năm 2016 cũng tương tự như những năm trước.

Điều 10 luật Đặc xá năm 2007 quy định về điều kiện được đề nghị đặc xá như sau:

“1. Người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đang chấp hành hình phạt tù được đề nghị đặc xá phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chấp hành tốt quy chế, nội quy của trại giam, trại tạm giam; tích cực học tập, lao động; trong quá trình chấp hành hình phạt tù được xếp loại cải tạo từ loại khá trở lên; khi được đặc xá không làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

b) Đã chấp hành hình phạt tù được một thời gian do Chủ tịch nước quyết định nhưng ít nhất là một phần ba thời gian đối với hình phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp hành hình phạt tù; ít nhất là mười bốn năm đối với hình phạt tù chung thân;

c) Đối với người bị kết án phạt tù về các tội phạm về tham nhũng hoặc một số tội phạm khác được Chủ tịch nước quyết định trong mỗi lần đặc xá thì phải chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, án phí hoặc nghĩa vụ dân sự khác.

2. Người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đang chấp hành hình phạt tù có đủ điều kiện quy định tại điểm a và điểm c khoản 1 Điều này được Chủ tịch nước quyết định thời gian đã chấp hành hình phạt tù ngắn hơn so với thời gian quy định tại điểm b khoản 1 Điều này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Đã lập công lớn trong thời gian chấp hành hình phạt tù, có xác nhận của trại giam, trại tạm giam;

b) Là thương binh; bệnh binh; người có thành tích trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội được tặng thưởng một trong các danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động, Huân chương, Huy chương kháng chiến, các danh hiệu Dũng sỹ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước; người có thân nhân là liệt sỹ; con của Bà mẹ Việt Nam anh hùng; con của Gia đình có công với nước;

c) Là người đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc ốm đau thường xuyên, có kết luận giám định y khoa hoặc xác nhận bằng văn bản của cơ quan y tế có thẩm quyền;

d) Khi phạm tội là người chưa thành niên;

đ) Là người từ 70 tuổi trở lên;

e) Có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, bản thân là lao động duy nhất trong gia đình, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi gia đình người đó cư trú;

g) Trường hợp khác do Chủ tịch nước quyết định.

3. Chính phủ có trách nhiệm hướng dẫn chi tiết việc áp dụng điều kiện của người được đề nghị đặc xá theo Quyết định về đặc xá của Chủ tịch nước.”

Điều 11 luật Đặc xá năm 2007 quy định về các trường hợp không đề nghị đặc xá như sau:

“Người có đủ điều kiện quy định tại Điều 10 của Luật này không được đề nghị đặc xá trong các trường hợp sau đây:

1. Bản án hoặc quyết định của Tòa án đối với người đó đang có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm;

2. Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác;

3. Trước đó đã được đặc xá;

4. Có từ hai tiền án trở lên;

5. Trường hợp khác do Chủ tịch nước quyết định.”

Có thể thấy,  bạn của bạn  có đáp ứng được điều kiện đặc xá theo điểm a và điểm b khoản 1 điều 10. Tuy nhiên, bên cạnh đó, để được có quyền đề nghị đặc xá, bạn của bạn cần không thuộc vào các trường hợp đã xác định tại điều 11 luật Đặc xá năm 2007 nêu trên.

Nếu  bạn của bạn  có quyền được đề nghị đặc xá thì cần tuân thủ về nghĩa vụ của người được đề nghị đặc xá được quy định tại điều 13 luật Đặc xá năm 2007 như sau:

“1. Nộp đơn xin đặc xá theo quy định của Luật này.

2. Khai báo đầy đủ, trung thực thông tin về cá nhân liên quan đến việc đề nghị đặc xá.

3. Chấp hành đầy đủ hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, án phí hoặc nghĩa vụ dân sự khác sau khi được đặc xá”

Hồ sơ đặc xá mà bạn của bạn cần chuẩn bị bao gồm:

1. Đơn xin đặc xá.

2. Tài liệu chứng minh về cá nhân, hoàn cảnh gia đình của người được đề nghị đặc xá.

3. Tài liệu chứng minh đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, án phí hoặc nghĩa vụ dân sự khác.

4. Cam kết không vi phạm pháp luật, tiếp tục chấp hành đầy đủ hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, án phí hoặc nghĩa vụ dân sự khác sau khi được đặc xá.

5. Văn bản đề nghị đặc xá của Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam.

Hồ sơ đặc xá này sẽ được Chủ tịch nước xem xét phê duyệt nếu đủ điều kiện.

Trên đây là ý kiến giải đáp của chúng tôi về câu hỏi của bạn. Việc đưa ra nội dung nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do người hỏi cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Give a Comment