Vợ bỏ nhà đi được 3 tháng về đòi ly hôn, chồng có được quyền nuôi con không?

Vợ bỏ nhà đi được 3 tháng về đòi ly hôn, chồng có được quyền nuôi con không?

Câu hỏi

Thưa luật sư: Vợ tôi bỏ nhà ra đi được 3 tháng. Nếu một thời gian sau vợ tôi về đòi ly hôn vậy người chồng có được quyền nuôi con không ạ, tính về tài sản em hiện tại em còn 1 căn hộ chung cư giá rẻ, công việc của em vẫn ổn định. Xin luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi xin cảm ơn!

Luật sư trả lời

1. Cơ sở pháp lý:

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

2. Nội dung tư vấn:

Thứ nhất, về quyền nuôi con

Vì bạn không nêu rõ là con của bạn bao nhiêu tuổi, nên chúng tôi sẽ tách ra làm 3 trường hợp như sau:

+ Con của anh dưới 3 tuổi, ở độ tuổi này, cháu bé sẽ đương nhiên thuộc quyền nuôi con của mẹ.

+ Con từ đủ 3 tuổi đến dưới 7 tuổi, ở độ tuổi này, Tòa án sẽ xem xét xem, về điều kiện kinh tế, thời gian chăm sóc con thì ai trong hai vợ chồng có khả năng nuôi con tốt hơn thì sẽ để người đó nuôi con.

+ Con từ 7 tuổi trở lên, sẽ thể theo nguyện vọng của con, con muốn ở với ai thì sẽ ở với người đó.

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Thứ hai, về vấn đề tài sản:

Tài sản của bạn hiện tại có một ngôi nhà và rẫy nương, số tài sản này nếu là tài sản mà cha mẹ anh để lại, tặng cho, thừa kế riêng cho bạn thì là tài sản riêng, còn nếu không phải tài sản tặng cho, thừa kế riêng thì tài sản này sẽ được quy vào tài sản chung của hai vợ chồng, nếu vợ bạn muốn ly hôn, hai bạn chấp thuận và có thể thỏa thuận được với nhau thì bạn và vợ bạn có thể thương lượng về vấn đề chia tài sản. Nhưng nếu không tự giải quyết được thì sẽ ra Tòa xử chia tài sản.

Số tài sản quy ra giá trị thực sẽ được chia đôi cho hai vợ chồng. Còn nếu bạn muốn giữ lại đất và nhà cho mình, bạn sẽ phải trả cho vợ một khoản tiền bằng một nửa tổng giá trị tài sản.

Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Điều 61. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình

1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Give a Comment