Vợ đòi ly hôn vì tội chơi lô đề của chồng vậy chồng có bị xử phạt không?

Vợ đòi ly hôn vì tội chơi lô đề của chồng vậy chồng có bị xử phạt không?

Xin chào chuyên mục hỏi đáp pháp luật! Cho tôi hỏi vấn đề sau: Cách đây một tuần anh trai tôi đi đánh lô đề, bị vợ bắt gặp và đã xảy ra mâu thuẫn, à rồi vợ anh trai tôi viết giấy ly hôn. Trong tờ ly hôn vợ anh có ghi lý do lày hôn là chồng đánh lô đề? Vậy cho tôi hỏi: Anh tôi có phạm tội không hay bị xử phạt gì không? Nếu bị khởi kiện ra tòa án anh tôi có bị truy tố trách nhiệm hình sự không? Anh tôi phải làm gì khi tòa án hỏi. Mong chuyên mục giải đáp giúp ạ. tôi xin chân thành cảm ơn!

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục của chúng tôi, với trường hợp của anh bạn chúng tôi giải đáp như sau:

Về cơ sở pháp lý:

 – Luật hôn nhân và gia đình 2014;

– Bộ luật Tố tụng hình sự 2003.

Về nội dung trả lời:

Theo như thông tin bạn cung cấp thì anh bạn đi đánh lô đề, vợ  anh ấy bắt gặp và ghi rõ trong đơn xin ly hôn thì trường hợp này anh bạn không bị truy cứu trách nhiệm hình sự bởi:

Thứ nhất, việc vợ anh bạn ghi như vậy là một trong những bước để hoàn thiện hồ sơ xin ly hôn, là căn cứ xin ly hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014.

Theo Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định thì vợ hoặc chồng đều có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn khi cuộc sống hôn nhân của một hoặc hai bên vợ chồng đang trầm trọng không thể kéo dài được thì pháp luật cho phép thuận tình hoặc đơn phương ly hôn để đảm bảo cuộc sống cho hai bên.

Tòa án sẽ xem xét, quyết định cho ly hôn khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây: Tình trạng của vợ chồng trầm trọng; đời sống chung không thể kéo dài; mục đích hôn nhân không đạt được.

Do vậy, trong đơn ly hôn hai bên phải nêu rõ căn cứ ly hôn là gì? Căn cứ ly hôn đó có dẫn đến tình trạng hôn nhân trầm trọng hay không? Nên việc vợanh  bạn ghi như vậy trong đơn ly hôn chỉ là đưa ra căn cứ ly hôn để đáp ứng điều kiện ly hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014.

Thứ hai, căn cứ khởi tố vụ án hình sự theo Bộ luật tố tụng Hình sự 2003 quy định như sau:

“Điều 100. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự.

Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây:

1. Tố giác của công dân;

2. Tin báo của cơ quan, tổ chức;

3. Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng;

4. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm;

5. Người phạm tội tự thú.”

Theo Điều 104 Bộ luật tố tụng Hình sự 2003 quy định quyết định khởi tố vụ án hình sự như sau:

“1. Khi xác định có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Thủ trưởng đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và Thủ trưởng các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định khởi tố vụ án trong những trường hợp quy định tại Điều 111 của Bộ luật này…”

Theo quy định pháp luật hình sự thì chỉ khi có căn cứ khởi tố vụ án hình sự (Điều 100) và khi xác định có dấu hiệu tội phạm (Điều 104). Do vậy, với trường hợp của anh bạn, anh bạn chưa có đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự 2003.

Trên đây là ý kiến giải đáp của chúng tôi về câu hỏi của bạn. Việc đưa ra nội dung nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do người hỏi cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Give a Comment