Xử lý hành vi lấn chiếm đất đai như thế nào?

Xử lý hành vi lấn chiếm đất đai như thế nào?

Thưa chuyên mục hỏi đáp pháp luật ! Tôi có một vấn đề như sau: Tại địa phương tôi ở có trường hợp công ty B được UBND huyện cho thuê đất và  đã có giấy chứng nhận thuê đất từ năm 2010. Tại thời điểm giao đất công ty đã liên hệ với sở Tài nguyên Môi trường để cắm mốc, giao đất tại thực địa. Tuy nhiên, từ lúc cho thuê đến cuối năm  2015 công ty chưa làm gì và không có làm hàng rào tạm để xác định ranh giới.Đến năm 2016, công ty có nhu cầu sử dụng thì diện tích này bị các hộ dân lấn chiếm, vậy xin hỏi chuyên mục cách giải quyết trường hợp này như thế nào? Chúng tôi phải trình báo và gửi yêu cầu đến đâu? UBND huyện có quyền lập biên bản xử lý vi phạm hành chính về hành vi lấn chiếm đất không ? Mong chuyên mục giải đáp giúp tôi, tôi xin chân thành cảm ơn!

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục của chúng tôi,  với trường hợp của bạn chúng tôi giải đáp như sau:

Thứ nhất, xử lý trường hợp thuê đất nhưng không sử dụng trong thời gian dài:

Công ty B thuê đất từ năm 2010 nhưng không sử dụng đến cuối năm 2015, như vậy đất thuê đó bị bỏ không trong 5 năm. Đây là một hành vi bị nghiêm cấm trong Luật Đất đai năm 2003 và cũng là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất.

Điều 38 Luật Đất đai năm 2003 quy định các trường hợp Nhà nước thu hồi đất, bao gồm:

1. Nhà nước thu hồi đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế;

2. Tổ chức được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất;

3. Sử dụng đất không đúng mục đích, sử dụng đất không có hiệu quả;

4. Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;

5. Đất được giao không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;

6. Đất bị lấn, chiếm trong các trường hợp sau đây:

a) Đất chưa sử dụng bị lấn, chiếm;

b) Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;

7. Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế;

8. Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất;

9. Người sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước;

10. Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn khi hết hạn;

11. Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liền kề; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liền; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liền;

12. Đất được nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư, kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đó cho phép.

Điều 44 Luật Đất đai 2003 quy định thẩm quyền thu hồi đất:

1. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

3. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không được ủy quyền.

Thứ hai, trách nhiệm hành chính đối với hộ gia đình, cá nhân có hành vi lấn, chiếm đất đai.

Điều 10 Nghị định 102/2014/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính đối vói hành vi lấn, chiếm đất:

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đói với hành vi lấn, chiếm đất nông nghiệp, không phải là đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất.

2. Phạt tiền từ 3,000,000 đồng đến 5,000,000 đồng đối với hành vi lấn, chiếm đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.

3. Phạt tiền từ 5,000,000 đồng đến 10,000,000 đồng đối với hành vi lấn, chiếm đất ở.

4. Hành vi lấn, chiếm đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình thì hình thức và mức xử phạt thực hiện theo quy định tại Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực về hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà ở và công sở; trong lĩnh vực về giao thông đường bộ và đường sắt; trong lĩnh vực về văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo; trong lĩnh vực về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; đê điều; phòng, chống lụt, bão và trong các lĩnh vực chuyên ngành khác.

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm đối với hành vi quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này;

b) Buộc trả lại đất đã lấn, chiếm đối với hành vi quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này.

Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính: UBND xã, phường, thị trấn (UBND cấp xã) có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm mà mức phạt tiền đến 5.000.000 đồng, UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (UBND cấp huyện) có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính mà mức phạt tiền đến 50.000.000 đồng; UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính mà mức phạt tiền đến 500.000.000 đồng.

Như vậy trong trường hợp này, UBND huyện có thẩm quyền xử phạt hành chính với hành vi lấn, chiếm đất phi nông nghiệp không phải là đất ở.

Trên đây là ý kiến giải đáp của chúng tôi về câu hỏi của bạn. Việc đưa ra nội dung nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do người hỏi cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Give a Comment