Bỏ qua điều hướng
Hỏi Đáp Pháp Luật

Điều 66 Bộ luật Hình sự 2015: Tha tù trước thời hạn có điều kiện

Hình sự25/09/2026

Phân tích Điều 66 Bộ luật Hình sự 2015 về tha tù trước thời hạn có điều kiện, điều kiện áp dụng và thời gian thử thách đối với người bị kết án phạt tù.

Hình sự · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09

Tha tù trước thời hạn có điều kiện là một biện pháp nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam, cho phép người đang chấp hành án phạt tù được ra tù trước thời hạn khi có đủ điều kiện và phải chấp hành thời gian thử thách. Điều 66 Bộ luật Hình sự 2015 quy định các điều kiện, thủ tục và hậu quả pháp lý của biện pháp này. Việc nắm rõ quy định giúp người bị kết án và thân nhân hiểu đúng quyền, nghĩa vụ và điều kiện được xem xét.

Điều 66. Tha tù trước thời hạn có điều kiện

1. Người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù hoặc người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm ít nghiêm trọng có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Phạm tội lần đầu;

b) Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt;

c) Có nơi cư trú rõ ràng;

d) Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và án phí;

đ) Đã chấp hành được ít nhất là một phần hai mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 15 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn. Trường hợp người phạm tội là người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì phải chấp hành được ít nhất là một phần ba mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 12 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn;

e) Không thuộc một trong các trường hợp phạm tội quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Không áp dụng quy định của Điều này đối với người bị kết án thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người bị kết án về một trong các tội quy định tại Chương XIII, Chương XXVI, Điều 299 của Bộ luật này; người bị kết án 10 năm tù trở lên về một trong các tội quy định tại Chương XIV của Bộ luật này do cố ý hoặc người bị kết án 07 năm tù trở lên đối với một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 248, 251 và 252 của Bộ luật này;

b) Người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật này.

3. Theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người bị kết án. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Thời gian thử thách bằng thời gian còn lại của hình phạt tù.

4. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính 02 lần trở lên trong thời gian thử thách, thì Tòa án có thể hủy bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người đó và buộc họ phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành. Nếu người đó thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án buộc người đó chấp hành hình phạt của bản án mới và tổng hợp với phần hình phạt tù chưa chấp hành của bản án trước theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

5. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đã chấp hành được ít nhất là một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.

Nguồn: Toàn văn Điều 66 Bộ luật Hình sự 2015 — Luật Minh Bạch

1. Bản chất của tha tù trước thời hạn có điều kiện

Tha tù trước thời hạn có điều kiện là việc cho người đang chấp hành án phạt tù được ra tù trước khi chấp hành xong toàn bộ hình phạt, với điều kiện phải chấp hành thời gian thử thách và các nghĩa vụ theo quy định. Đây không phải là tha tù vô điều kiện, cũng không phải là ân xá hay đặc xá. Người được tha tù vẫn bị ràng buộc bởi các nghĩa vụ trong thời gian thử thách và có thể bị buộc trở lại trại giam nếu vi phạm.

Đây là biện pháp mang tính nhân đạo, khuyến khích người bị kết án cải tạo tốt, đồng thời giảm áp lực cho hệ thống trại giam. Bản chất pháp lý là thay đổi điều kiện chấp hành hình phạt: từ chấp hành trong trại giam sang chấp hành ngoài xã hội có giám sát, với thời gian thử thách tương ứng với phần hình phạt còn lại.

2. Điều kiện được tha tù trước thời hạn

Khoản 1 Điều 66 quy định các điều kiện để người đang chấp hành án phạt tù được xem xét tha tù trước thời hạn. Về đối tượng, quy định phân biệt hai nhóm: người chấp hành án về tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng mà đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù; và người chấp hành án về tội phạm ít nghiêm trọng.

Các điều kiện cụ thể gồm: phạm tội lần đầu; có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt; có nơi cư trú rõ ràng; đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và án phí; đã chấp hành được ít nhất một phần hai mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất 15 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn.

Với nhóm đối tượng đặc thù — người có công với cách mạng, thân nhân người có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi — mức thời gian đã chấp hành được giảm xuống còn ít nhất một phần ba mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất 12 năm đối với trường hợp tù chung thân đã giảm xuống tù có thời hạn.

3. Trường hợp không được tha tù trước thời hạn

Khoản 2 Điều 66 loại trừ một số nhóm người bị kết án khỏi phạm vi áp dụng. Thứ nhất, người bị kết án về một trong các tội quy định tại Chương XIII (các tội xâm phạm an ninh quốc gia), Chương XXVI (các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh), Điều 299 (tội khủng bố) của Bộ luật Hình sự.

Thứ hai, người bị kết án 10 năm tù trở lên về một trong các tội quy định tại Chương XIV (các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người) do cố ý, hoặc người bị kết án 07 năm tù trở lên đối với một trong các tội quy định tại các điều 168 (tội cướp tài sản), 169 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản), 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy), 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy) và 252 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy).

Thứ ba, người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 Bộ luật Hình sự. Các trường hợp loại trừ này thể hiện chính sách nghiêm khắc của Nhà nước đối với những tội phạm đặc biệt nguy hiểm cho xã hội.

4. Thủ tục và thời gian thử thách

Khoản 3 Điều 66 quy định thủ tục: theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người bị kết án. Như vậy, thẩm quyền quyết định thuộc về Tòa án; cơ quan thi hành án hình sự chỉ có vai trò đề nghị. Người được tha tù phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách.

Thời gian thử thách bằng thời gian còn lại của hình phạt tù. Điều này có nghĩa là nếu người bị kết án còn phải chấp hành 3 năm tù thì thời gian thử thách là 3 năm. Trong thời gian này, người đó phải tuân thủ các nghĩa vụ như có mặt theo giấy triệu tập, không đi khỏi nơi cư trú mà không được phép, không phạm tội mới, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ dân sự.

Khoản 5 Điều 66 còn quy định cơ chế rút ngắn thời gian thử thách: người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đã chấp hành được ít nhất một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách. Đây là quy định khuyến khích người được tha tù tiếp tục cải tạo tốt.

5. Hậu quả khi vi phạm điều kiện trong thời gian thử thách

Khoản 4 Điều 66 quy định hai nhóm hậu quả khi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện vi phạm. Thứ nhất, nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính 02 lần trở lên trong thời gian thử thách, Tòa án có thể hủy bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện và buộc người đó phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành.

Thứ hai, nếu người đó thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách, Tòa án buộc người đó chấp hành hình phạt của bản án mới và tổng hợp với phần hình phạt tù chưa chấp hành của bản án trước theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự (tổng hợp hình phạt của nhiều bản án). Hậu quả này nghiêm khắc hơn, có thể dẫn đến hình phạt tù dài hơn.

Như vậy, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện cần hết sức thận trọng trong thời gian thử thách, tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ và không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Việc vi phạm nghĩa vụ có thể làm mất quyền lợi đã được hưởng và phải chấp hành phần hình phạt còn lại.

6. Phân biệt với án treo và giảm án

Tha tù trước thời hạn có điều kiện khác với án treo (Điều 65 Bộ luật Hình sự). Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, áp dụng khi người bị kết án được hưởng án treo — tức không phải vào trại giam. Tha tù trước thời hạn có điều kiện áp dụng cho người đã và đang chấp hành án phạt tù thực tế, được ra tù sớm hơn.

Cũng cần phân biệt với giảm mức hình phạt đã tuyên (Điều 63 Bộ luật Hình sự). Giảm án là việc Tòa án giảm bớt một phần hình phạt cho người bị kết án đang chấp hành án, làm ngắn thời gian chấp hành hình phạt. Tha tù trước thời hạn có điều kiện không làm giảm hình phạt mà chỉ cho ra tù sớm với điều kiện thử thách.

Về thời điểm xem xét, tha tù trước thời hạn có điều kiện được xem xét mỗi năm 03 đợt vào các dịp lễ lớn hoặc theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự. Người bị kết án hoặc thân nhân có thể làm đơn đề nghị gửi cơ quan thi hành án hình sự để cơ quan này xem xét, đề nghị Tòa án.

7. Lưu ý thực tiễn

Thứ nhất, các điều kiện tại khoản 1 Điều 66 phải được thỏa mãn đồng thời và đầy đủ. Việc thiếu một điều kiện (ví dụ chưa chấp hành xong nghĩa vụ bồi thường thiệt hại hoặc chưa có nơi cư trú rõ ràng) sẽ dẫn đến việc không được xem xét tha tù trước thời hạn.

Thứ hai, cần kiểm tra xem người bị kết án có thuộc trường hợp loại trừ tại khoản 2 Điều 66 hay không. Với các tội danh bị loại trừ hoặc mức án từ 07 năm tù trở lên đối với các tội ma túy, cướp tài sản, người bị kết án không được áp dụng biện pháp này.

Thứ ba, cần lưu ý việc chấp hành xong hình phạt bổ sung và nghĩa vụ dân sự trước khi đề nghị. Đây là điều kiện luật định mà nhiều trường hợp bị vướng do chưa thanh toán xong tiền bồi thường hoặc án phí.

Thứ tư, sau khi được tha tù, cần thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trong thời gian thử thách; việc vi phạm có thể dẫn đến hủy quyết định tha tù và phải chấp hành phần hình phạt còn lại. Đồng thời, nên phấn đấu cải tạo tốt để được rút ngắn thời gian thử thách theo khoản 5 Điều 66.

8. Câu hỏi thường gặp

Tha tù trước thời hạn có điều kiện có phải đặc xá không? Không. Đây là biện pháp tha tù có điều kiện theo quyết định của Tòa án theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự, khác với đặc xá theo quyết định của Chủ tịch nước.

Thời gian thử thách là bao lâu? Bằng thời gian còn lại của hình phạt tù.

Được tha tù sớm thì có bị quay lại trại giam không? Có thể, nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, bị xử phạt vi phạm hành chính 02 lần trở lên hoặc phạm tội mới trong thời gian thử thách.

Người bị kết án tội đặc biệt nghiêm trọng có được tha tù trước thời hạn không? Có thể, nếu đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù và không thuộc trường hợp loại trừ tại khoản 2 Điều 66.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) - Điều 66 về tha tù trước thời hạn có điều kiện
  • Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) - Điều 65 về án treo; Điều 63 về giảm mức hình phạt đã tuyên
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.
Cần tư vấn cho trường hợp cụ thể?