Bồi thường cây trồng, vật nuôi khi Nhà nước thu hồi đất
Quy định bồi thường thiệt hại về cây trồng, vật nuôi khi thu hồi đất theo Điều 103 Luật Đất đai 2024.
Khi Nhà nước thu hồi đất, ngoài bồi thường về đất, người sử dụng đất còn được bồi thường thiệt hại đối với tài sản gắn liền với đất, trong đó có cây trồng và vật nuôi. Điều 103 Luật Đất đai 2024 quy định nguyên tắc và cách tính bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi. Bài viết phân tích quy định này và những lưu ý thực tiễn để bảo vệ quyền lợi khi bị thu hồi đất.
Điều 103. Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi
Khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hại đối với cây trồng, vật nuôi thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây:
1. Đối với cây hằng năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị sản lượng của vụ thu hoạch đối với cây trồng đó. Giá trị sản lượng của vụ thu hoạch được tính theo năng suất của vụ cao nhất trong 03 năm trước liền kề của loại cây trồng đó tại địa phương và đơn giá bồi thường;
2. Đối với cây lâu năm, mức bồi thường được tính theo giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây. Đối với cây lâu năm là loại cho thu hoạch nhiều lần mà đang trong thời kỳ thu hoạch thì mức bồi thường được tính bằng sản lượng vườn cây còn chưa thu hoạch tương ứng với số năm còn lại trong chu kỳ thu hoạch và đơn giá bồi thường;
3. Đối với cây trồng chưa thu hoạch nhưng có thể di chuyển đến địa điểm khác thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại thực tế do phải di chuyển, phải trồng lại. Đối với cây rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, cây rừng tự nhiên giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trồng, quản lý, chăm sóc, bảo vệ thì bồi thường theo giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây; tiền bồi thường được phân chia cho người quản lý, chăm sóc, bảo vệ theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp;
4. Khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hại đối với vật nuôi là thủy sản hoặc vật nuôi khác mà không thể di chuyển thì được bồi thường thiệt hại thực tế theo mức bồi thường cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định;
5. Chủ sở hữu cây trồng, vật nuôi quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này được tự thu hồi cây trồng, vật nuôi trước khi bàn giao lại đất cho Nhà nước;
6. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành đơn giá bồi thường thiệt hại về cây trồng, vật nuôi theo quy trình sản xuất do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặc do địa phương ban hành theo quy định của pháp luật; đơn giá bồi thường thiệt hại về cây trồng, vật nuôi quy định tại Điều này bảo đảm phù hợp với giá thị trường và phải xem xét điều chỉnh khi có biến động để làm căn cứ tính bồi thường khi thu hồi đất.
Nguồn: Toàn văn Điều 103 Luật Đất đai 2024 — Luật Minh Bạch
1. Nguyên tắc bồi thường cây trồng, vật nuôi
Điều 103 Luật Đất đai 2024 xác lập nguyên tắc bồi thường thiệt hại thực tế đối với cây trồng, vật nuôi khi Nhà nước thu hồi đất. Người sử dụng đất có cây trồng, vật nuôi trên đất bị thu hồi được bồi thường theo giá trị thiệt hại thực tế, căn cứ vào loại cây trồng, vật nuôi và thời kỳ sinh trưởng của chúng.
Quy định phân biệt cây hằng năm và cây lâu năm với cách tính bồi thường khác nhau, phản ánh đặc điểm sinh học và giá trị kinh tế của từng loại. Cây hằng năm có chu kỳ ngắn nên bồi thường theo giá trị sản lượng vụ thu hoạch; cây lâu năm có giá trị tích lũy theo thời gian nên bồi thường theo giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây.
Đơn giá bồi thường do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành, bảo đảm phù hợp với giá thị trường và phải được xem xét điều chỉnh khi có biến động. Đây là cơ sở để tính mức bồi thường cụ thể cho từng loại cây trồng, vật nuôi trên địa bàn.
2. Bồi thường đối với cây hằng năm
Khoản 1 Điều 103 quy định đối với cây hằng năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị sản lượng của vụ thu hoạch đối với cây trồng đó. Giá trị sản lượng của vụ thu hoạch được tính theo năng suất của vụ cao nhất trong 03 năm trước liền kề của loại cây trồng đó tại địa phương và đơn giá bồi thường.
Cách tính này bảo đảm người trồng cây hằng năm được bồi thường tương xứng với thu nhập mà họ lẽ ra được hưởng nếu không bị thu hồi đất. Việc lấy năng suất của vụ cao nhất trong 03 năm trước liền kề là cách xác định hợp lý, tránh thiệt thòi cho người nông dân khi vụ gần nhất có năng suất thấp do điều kiện thời tiết.
Ví dụ, một hộ gia đình trồng lúa trên diện tích bị thu hồi. Năng suất lúa cao nhất trong 03 năm trước liền kề tại địa phương là 6 tấn/ha. Mức bồi thường được tính bằng 6 tấn nhân với đơn giá bồi thường do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định, nhân với diện tích bị thu hồi.
3. Bồi thường đối với cây lâu năm
Khoản 2 Điều 103 quy định đối với cây lâu năm, mức bồi thường được tính theo giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây. Đối với cây lâu năm là loại cho thu hoạch nhiều lần mà đang trong thời kỳ thu hoạch thì mức bồi thường được tính bằng sản lượng vườn cây còn chưa thu hoạch tương ứng với số năm còn lại trong chu kỳ thu hoạch và đơn giá bồi thường.
Quy định này phân biệt hai trường hợp: cây lâu năm chưa đến thời kỳ thu hoạch và cây lâu năm đang trong thời kỳ thu hoạch. Với cây đang trong thời kỳ thu hoạch, bồi thường tính theo sản lượng còn chưa thu hoạch, tức phần thu nhập mà người trồng mất đi do phải chấm dứt chu kỳ khai thác.
Ví dụ, một vườn cà phê đang trong chu kỳ thu hoạch còn 5 năm. Mức bồi thường được tính bằng sản lượng cà phê ước tính của 5 năm còn lại nhân với đơn giá bồi thường. Cách tính này bảo đảm người trồng cây lâu năm được bồi thường tương xứng với giá trị đầu tư và thu nhập bị mất.
4. Bồi thường đối với cây trồng có thể di chuyển
Khoản 3 Điều 103 quy định đối với cây trồng chưa thu hoạch nhưng có thể di chuyển đến địa điểm khác thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại thực tế do phải di chuyển, phải trồng lại. Đối với cây rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, cây rừng tự nhiên giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trồng, quản lý, chăm sóc, bảo vệ thì bồi thường theo giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây; tiền bồi thường được phân chia cho người quản lý, chăm sóc, bảo vệ theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp.
Quy định về cây rừng thể hiện sự phân biệt giữa chủ thể trồng và chủ thể quản lý, chăm sóc, bảo vệ rừng. Tiền bồi thường được phân chia theo đóng góp thực tế của từng chủ thể, phù hợp với quy định của pháp luật về lâm nghiệp.
Khoản 5 Điều 103 quy định chủ sở hữu cây trồng, vật nuôi được tự thu hồi cây trồng, vật nuôi trước khi bàn giao lại đất cho Nhà nước. Quyền này cho phép người sử dụng đất chủ động di dời, thu hoạch tài sản trước khi bàn giao đất, tránh lãng phí tài sản.
5. Bồi thường đối với vật nuôi
Khoản 4 Điều 103 quy định khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hại đối với vật nuôi là thủy sản hoặc vật nuôi khác mà không thể di chuyển thì được bồi thường thiệt hại thực tế theo mức bồi thường cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.
Đặc thù của vật nuôi là thủy sản (tôm, cá, các loài nhuyễn thể) là không thể di chuyển khỏi ao, hồ, đầm khi Nhà nước thu hồi đất. Do đó, mức bồi thường căn cứ vào giá trị thiệt hại thực tế và mức bồi thường cụ thể do địa phương quy định. Với vật nuôi khác có thể di chuyển, người nuôi có thể tự di dời và được bồi thường chi phí di chuyển, thiệt hại thực tế.
Việc xác định giá trị thiệt hại đối với vật nuôi cần căn cứ vào số lượng, trọng lượng, giai đoạn sinh trưởng và giá thị trường tại thời điểm thu hồi đất. Người nuôi cần thu thập tài liệu chứng minh quá trình chăn nuôi, số lượng vật nuôi để bảo vệ quyền lợi khi yêu cầu bồi thường.
6. Lưu ý thực tiễn
Thứ nhất, người sử dụng đất cần kiểm tra đơn giá bồi thường do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành cho loại cây trồng, vật nuôi của mình. Đơn giá này là căn cứ tính mức bồi thường cụ thể. Nếu đơn giá không phù hợp với giá thị trường, người sử dụng đất có quyền kiến nghị xem xét điều chỉnh.
Thứ hai, cần lập biên bản kiểm kê, xác nhận số lượng, chủng loại, thời kỳ sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi khi Nhà nước tiến hành kiểm kê phục vụ bồi thường. Biên bản có sự tham gia của người sử dụng đất và các cơ quan liên quan là chứng cứ quan trọng để xác định mức bồi thường.
Thứ ba, chủ sở hữu cây trồng, vật nuôi có quyền tự thu hồi tài sản trước khi bàn giao đất. Nên tận dụng quyền này để giảm thiểu thiệt hại, đặc biệt với cây trồng, vật nuôi có thể di chuyển được.
Thứ tư, nhiều địa phương ban hành chính sách hỗ trợ thêm đối với cây trồng, vật nuôi khi thu hồi đất. Cần tìm hiểu các chính sách hỗ trợ, tái định cư của địa phương để bảo đảm quyền lợi đầy đủ. Vấn đề bồi thường thiệt hại còn được quy định chi tiết tại Nghị định số 88/2024/NĐ-CP của Chính phủ.
Lưu ý khi áp dụng
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
- Luật Đất đai 2024 (31/2024/QH15) - Điều 103 về bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi
- Nghị định 88/2024/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất