Bỏ qua điều hướng
Hỏi Đáp Pháp Luật

Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

26/09/2026

Căn cứ, thẩm quyền và hậu quả của việc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên theo Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

Hôn nhân & Gia đình · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09

Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên là biện pháp pháp lý nghiêm khắc nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em khi cha hoặc mẹ có hành vi xâm phạm nghiêm trọng. Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định cụ thể các căn cứ, người có quyền yêu cầu và hậu quả pháp lý của việc hạn chế quyền. Bài viết phân tích các Điều 85, 86 và 87 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

Điều 85. Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

1. Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:

a) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;

b) Phá tán tài sản của con;

c) Có lối sống đồi trụy;

d) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

2. Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 86 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này.

Điều 86. Người có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

1. Cha, mẹ, người giám hộ của con chưa thành niên, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên: a) Người thân thích; b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; d) Hội liên hiệp phụ nữ.

3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện cha, mẹ có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các Điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

Điều 87. Hậu quả pháp lý của việc cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên

1. Trong trường hợp cha hoặc mẹ bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên thì người kia thực hiện quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con và đại diện theo pháp luật cho con.

2. Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con và quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên được giao cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự và Luật này trong các trường hợp sau đây: a) Cha và mẹ đều bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên; b) Một bên cha, mẹ không bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên nhưng không đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với con; c) Một bên cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên và chưa xác định được bên cha, mẹ còn lại của con chưa thành niên.

3. Cha, mẹ đã bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Nguồn: Toàn văn Điều 85, 86, 87 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 — Luật Minh Bạch

1. Căn cứ hạn chế quyền của cha, mẹ

Khoản 1 Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định bốn căn cứ hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên. Căn cứ thứ nhất là bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Căn cứ thứ hai là phá tán tài sản của con — hành vi làm mất, hư hỏng, tiêu tán tài sản thuộc quyền sở hữu của con. Căn cứ thứ ba là có lối sống đồi trụy. Căn cứ thứ tư là xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Các căn cứ này đều thể hiện hành vi xâm phạm nghiêm trọng quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em. Việc hạn chế quyền của cha, mẹ không nhằm trừng phạt cha mẹ mà nhằm bảo vệ trẻ em khỏi những hành vi gây tổn hại. Đây là biện pháp can thiệp của Nhà nước vào quan hệ gia đình khi lợi ích của trẻ em bị đe dọa.

Khoản 2 Điều 85 quy định Tòa án có thể ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này.

2. Người có quyền yêu cầu hạn chế quyền

Khoản 1 Điều 86 quy định cha, mẹ, người giám hộ của con chưa thành niên có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên. Điều này có nghĩa là một bên cha hoặc mẹ có thể yêu cầu hạn chế quyền của bên kia khi bên kia có hành vi vi phạm.

Khoản 2 Điều 86 mở rộng phạm vi người có quyền yêu cầu, bao gồm: người thân thích; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ. Đây là các chủ thể có trách nhiệm và lợi ích liên quan đến việc bảo vệ trẻ em, được pháp luật trao quyền khởi kiện yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ.

Khoản 3 Điều 86 quy định cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện cha, mẹ có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 85 có quyền đề nghị các cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 yêu cầu Tòa án hạn chế quyền. Cơ chế này bảo đảm mọi hành vi xâm phạm quyền trẻ em đều có thể được can thiệp, kể cả khi cá nhân phát hiện không thuộc diện có quyền yêu cầu trực tiếp.

3. Hậu quả pháp lý khi cha, mẹ bị hạn chế quyền

Khoản 1 Điều 87 quy định trong trường hợp cha hoặc mẹ bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên thì người kia thực hiện quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con và đại diện theo pháp luật cho con. Đây là nguyên tắc chuyển giao quyền, nghĩa vụ cho bên cha, mẹ còn lại.

Khoản 2 Điều 87 quy định việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con và quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên được giao cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Hôn nhân và Gia đình trong ba trường hợp: cha và mẹ đều bị Tòa án hạn chế quyền; một bên cha, mẹ không bị hạn chế quyền nhưng không đủ điều kiện thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với con; một bên cha, mẹ bị hạn chế quyền và chưa xác định được bên cha, mẹ còn lại.

Trong các trường hợp này, người giám hộ thực hiện việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con và quản lý tài sản riêng của con. Việc giám hộ được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Người giám hộ có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên.

4. Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ bị hạn chế quyền

Khoản 3 Điều 87 quy định cha, mẹ đã bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Đây là quy định mang tính nhân đạo và bảo vệ quyền lợi của trẻ em: việc hạn chế quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục con không làm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng.

Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện theo quy định tại các Điều 110 đến 115 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 về mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng và thời hạn cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận hoặc do Tòa án quyết định căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng.

Việc cha, mẹ bị hạn chế quyền vẫn phải cấp dưỡng thể hiện rõ quan điểm của pháp luật: quyền của cha, mẹ đối với con gắn với trách nhiệm nuôi dưỡng, và trách nhiệm này tiếp tục tồn tại ngay cả khi quyền bị hạn chế. Đây là cơ chế bảo đảm trẻ em vẫn được chăm sóc về vật chất.

5. Thẩm quyền và thủ tục giải quyết

Thẩm quyền giải quyết yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên thuộc Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cha, mẹ hoặc con cư trú. Thủ tục giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về việc dân sự, cụ thể là thủ tục giải quyết yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

Người yêu cầu phải cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cha, mẹ thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 85. Tài liệu, chứng cứ có thể gồm: bản án, quyết định của Tòa án, biên bản xác minh của cơ quan chức năng, lời khai của người làm chứng, tài liệu về tình trạng tài sản của con.

Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức ra quyết định hạn chế quyền của cha, mẹ. Thời hạn hạn chế quyền từ 01 năm đến 05 năm tùy từng trường hợp cụ thể. Tòa án có thể xem xét rút ngắn thời hạn nếu thấy điều kiện thay đổi.

6. Lưu ý về trách nhiệm nuôi dưỡng

Thứ nhất, việc hạn chế quyền của cha, mẹ không làm chấm dứt quan hệ cha mẹ - con. Cha, mẹ bị hạn chế quyền vẫn có nghĩa vụ cấp dưỡng và vẫn có quyền thăm nom con theo quy định pháp luật, trừ trường hợp bị hạn chế hoặc cấm thăm nom. Đây là điểm cần phân biệt rõ ràng giữa hạn chế quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục và quyền thăm nom.

Thứ hai, khi một bên cha, mẹ bị hạn chế quyền, bên còn lại có trách nhiệm thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ đối với con. Nếu bên còn lại không đủ điều kiện, việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con được giao cho người giám hộ. Việc xác định người giám hộ cần căn cứ vào quy định của Bộ luật Dân sự về giám hộ.

Thứ ba, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em và Hội liên hiệp phụ nữ có vai trò quan trọng trong việc phát hiện, đề nghị và tham gia giải quyết các trường hợp hạn chế quyền của cha, mẹ. Đây là cơ chế bảo vệ trẻ em dựa trên sự tham gia của cộng đồng và cơ quan nhà nước.

Thứ tư, khi các căn cứ hạn chế quyền không còn, Tòa án có thể xem xét thay đổi quyết định theo yêu cầu của đương sự hoặc người có quyền, lợi ích liên quan. Việc khôi phục quyền của cha, mẹ được xem xét trên cơ sở bảo đảm lợi ích tốt nhất cho con chưa thành niên.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (52/2014/QH13) - Điều 85 về hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên
  • Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (52/2014/QH13) - Điều 86, 87 về người có quyền yêu cầu và hậu quả pháp lý
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.
Cần tư vấn cho trường hợp cụ thể?