Quyền lưu cư của vợ hoặc chồng khi ly hôn trong 06 tháng
Vợ hoặc chồng khó khăn về chỗ ở được quyền lưu cư trong 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt.
Điều 63. Quyền lưu cư của vợ hoặc chồng khi ly hôn Nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng đã đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó; trường hợp vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
1. Điều kiện hưởng quyền lưu cư
Căn cứ Điều 63 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (số 52/2014/QH13), quyền lưu cư của vợ hoặc chồng trong thời gian chờ ly hôn 06 tháng được quy định nhằm bảo vệ quyền lợi về chỗ ở của các bên trong giai đoạn chưa có quyết định ly hôn chính thức của Tòa án.
Điều kiện hưởng quyền lưu cư bao gồm 3 yếu tố cốt lõi sau:
- Đang trong thời gian chờ ly hôn 06 tháng theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, tức là Tòa án đã ra quyết định thụ lý đơn ly hôn (trường hợp vợ/chồng yêu cầu ly hôn không có căn cứ ly hôn tự nguyện theo quy định pháp luật) và chưa ra quyết định ly hôn chính thức;
- Chỗ ở được hưởng quyền lưu cư là chỗ ở chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, bao gồm nhà ở thuê chung, nhà ở sở hữu chung hoặc chỗ ở do một bên thuê nhưng cả hai cùng sinh sống trong suốt thời kỳ hôn nhân;
- Không thuộc trường hợp loại trừ: các bên đã có thỏa thuận khác về chỗ ở trong thời gian chờ ly hôn, hoặc vợ/chồng có nhu cầu tự ng
2. Thời hạn lưu cư 06 tháng
Căn cứ Điều 63 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (số 52/2014/QH13), vợ hoặc chồng có quyền lưu cư tại nhà chung hoặc nhà của người còn lại trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của bên yếu thế, có đủ thời gian ổn định chỗ ở, tìm nguồn thu nhập trước khi chuyển đi, tránh tình trạng mất chỗ ở đột ngột gây khó khăn cho cuộc sống và việc chăm sóc con cái.
Thời điểm tính 06 tháng bắt đầu từ ngày bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, không phải từ ngày Tòa án tuyên án. Quy định này không áp dụng trong các trường hợp sau:
- Các bên có thỏa thuận về thời hạn lưu cư khác (ví dụ: vợ đồng ý dọn ra trước hạn, hoặc chồng cho phép ở thêm thời gian);
- Vợ, chồng đã có nơi ở khác trước khi bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực;
- Hai bên thỏa thuận về thời hạn lưu cư dài hơn 06 tháng nếu bên nào có nhu cầu thực tế (ví dụ: chưa tìm được chỗ ở mới, phải chăm sóc con nhỏ hoặc người khuyết tật).
Ví dụ thực tiễn: Bà A và ông B ly hôn, bản án có hiệu lực ngày 15/8/2024, bà A không có nhà riêng, phải chăm sóc con 3 tuổi, không có thu nhập ổn định. Ông B không có quyền yêu cầu bà A dọn ra nhà trước ngày 15/2/2025, trừ khi hai bên có thỏa thuận khác. Nếu bà A cần ở thêm 3 tháng để ổn định việc làm mà hai bên không thỏa thuận được, bà A có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 63 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
3. Nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng
Phân tích pháp lý về quyền lưu cư của vợ hoặc chồng khi ly hôn đối với nhà ở thuộc sở hữu riêng dựa trên Điều 63 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (52/2014/QH13).
Cơ sở pháp lý:
Điều 63 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định: "Trường hợp vợ, chồng có nhà ở thuộc sở hữu riêng của mình thì khi ly hôn, nhà ở đó vẫn thuộc sở hữu riêng của người có quyền sở hữu. Trường hợp vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở mà bên kia có điều kiện thì bên có điều kiện có trách nhiệm hỗ trợ bên khó khăn về chỗ ở."
Phân tích nội dung:
- Nguyên tắc sở hữu riêng: Nhà ở do vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, được thừa kế riêng, hoặc tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó khi ly hôn. Không có tranh chấp về quyền sở hữu.
- Trách nhiệm hỗ trợ: Pháp luật đặt ra nghĩa vụ hỗ trợ về chỗ ở cho bên khó khăn. Đây là trách nhiệm mang tính nhân đạo, không phải nghĩa vụ chia tài sản.
- Hình thức hỗ trợ: Có thể là cho ở tạm thời, hỗ trợ tiền thuê nhà, hoặc tìm giải pháp khác phù hợp khả năng của bên có điều kiện.
Ví dụ thực tiễn:
Vợ có căn hộ mua trước khi kết hôn. Khi ly hôn, căn hộ vẫn thuộc sở hữu của vợ. Tuy nhiên, nếu chồng chưa có chỗ ở mới và vợ có điều kiện (ví dụ: có nhà khác hoặc khả năng tài chính tốt), vợ có trách nhiệm hỗ trợ chồng về chỗ ở trong thời gian hợp lý.
Lưu ý: Thời gian hỗ trợ 06 tháng được đề cập trong tiêu đề bài viết thường là khoảng thời gian hợp lý để bên khó khăn tìm kiếm chỗ ở mới, dựa trên thực tiễn xét xử và hướng dẫn áp dụng pháp luật.
4. Thỏa thuận khác của các bên
Điều 63 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (52/2014/QH13) quy định: "Trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng thì có quyền tiếp tục ở; trừ trường hợp có thỏa thuận khác". Căn cứ này mở ra cho các bên khả năng lập "thỏa thuận khác" thay cho quyền lưu cư mặc định trong 06 tháng.
Phân tích: Thỏa thuận khác là sự thỏa thuận tự nguyện giữa vợ, chồng (hoặc giữa họ với chủ sở hữu nhà ở) về việc không áp dụng hoặc thay đổi quyền tiếp tục ở trong 06 tháng. Nội dung có thể gồm: kéo dài hoặc rút ngắn thời hạn ở; chuyển quyền lưu cư cho bên không sở hữu nhà; thay thế bằng nghĩa vụ hỗ trợ chỗ ở, tiền thuê nhà; điều kiện sử dụng, bảo quản nhà; chi phí điện, nước, bảo trì. Thỏa thuận có hiệu lực bắt buộc với các bên khi phù hợp pháp luật, không vi phạm điều cấm, không xâm phạm quyền lợi hợp pháp của người thứ ba (trẻ em, người cao tuổi đang ở cùng).
Ví dụ thực tiễn: Vợ là chủ sở hữu căn hộ chung cư, chồng không có nhà riêng. Sau ly hôn, hai bên thỏa thuận chồng được tiếp tục ở 12 tháng thay vì 06 tháng, đồng thời tự nguyện trả một phần chi phí quản lý, điện, nước; hoặc ngược lại, chồng đồng ý rời nhà ngay khi nhận khoản hỗ trợ 50 triệu đồng từ vợ để thuê chỗ ở. Tòa án ghi nhận thỏa thuận này trong bản án hoặc quyết định công nhận thuận ly, trừ trường hợp thỏa thuận vi phạm pháp luật hoặc xâm phạm quyền lợi hợp pháp của con chưa thành niên.
Lưu ý: Thỏa thuận khác cần lập thành văn bản, có chữ ký của các bên, nêu rõ thời hạn, phạm vi sử dụng nhà và cơ chế xử lý khi có tranh chấp. Nếu nhà ở thuộc sở hữu chung婚后 hoặc có liên quan đến tài sản chung chưa phân chia, thỏa thuận phải gắn với việc phân chia tài sản theo Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Lưu ý khi áp dụng
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
- Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (52/2014/QH13) - Điều 63