Bỏ qua điều hướng
Hỏi Đáp Pháp Luật

Thẩm quyền của Tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức

04/10/2026

Thẩm quyền của Tòa án với quyết định cá biệt, thủ tục yêu cầu tuyên bố vô hiệu.

Tố tụng dân sự & hành chính · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/10

Điều 34. Thẩm quyền của Tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức 1. Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết. 2. Quyết định cá biệt quy định tại khoản 1 Điều này là quyết định đã được ban hành về một vấn đề cụ thể và được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Trường hợp vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định này thì phải được Tòa án xem xét trong cùng một vụ việc dân sự đó. 3. Khi xem xét hủy quyết định quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án phải đưa cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền đã ban hành quyết định tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền đã ban hành quyết định phải tham gia tố tụng và trình bày ý kiến của mình về quyết định cá biệt bị Tòa án xem xét hủy. 4. Thẩm quyền của cấp Tòa án giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp có xem xét việc hủy quyết định cá biệt quy định tại khoản 1 Điều này được xác định theo quy định tương ứng của Luật tố tụng hành chính về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Mục 2. THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN CÁC CẤP

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Thẩm quyền với quyết định cá biệt theo Điều 34

Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định thẩm quyền của Tòa án đối với việc xem xét tính hợp pháp của quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức. Theo khoản 1 Điều 34, Tòa án có thẩm quyền giải quyết khiếu kiện đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức khi quyết định đó xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.

Quyết định cá biệt được hiểu là quyết định được ban hành một lần, áp dụng cho một hoặc một nhóm đối tượng cụ thể, không mang tính quy phạm. Ví dụ điển hình: quyết định thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân cấp huyện; quyết định buộc thôi việc đối với người lao động; quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh. Khi các quyết định này xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp, đương sự có quyền khởi kiện vụ án dân sự ra Tòa án để yêu cầu hủy quyết định trái pháp luật.

Khoản 2 Điều 34 quy định Tòa án chỉ xem xét tính hợp pháp của quyết định cá biệt, không xem xét tính hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật. Đây là ranh giới quan trọng phân định thẩm quyền giữa Tòa án và cơ quan hành chính. Trường hợp quyết định cá biệt được ban hành trên cơ sở văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật, Tòa án không có quyền hủy văn bản quy phạm đó mà chỉ có thể kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ theo khoản 3 Điều 34.

Về thủ tục, Điều 41 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ. Tòa án nơi cơ quan, tổ chức ban hành quyết định có trụ sở hoặc nơi cơ quan, tổ chức đó đóng trụ sở chính có thẩm quyền giải quyết. Người khởi kiện có quyền lựa chọn Tòa án nơi mình cư trú, làm việc hoặc nơi quyết định được ban hành để nộp đơn, tạo thuận lợi cho việc tiếp cận công lý.

Thực tiễn cho thấy, các vụ án loại này thường phát sinh trong lĩnh vực đất đai, lao động và kinh doanh thương mại. Người khởi kiện cần lưu ý thời hiệu khởi kiện và chuẩn bị đầy đủ chứng cứ chứng minh quyết định cá biệt xâm phạm quyền lợi hợp pháp của mình để bảo vệ hiệu quả quyền lợi trước Tòa án.

2. Chuyển vụ việc và giải quyết tranh chấp về thẩm quyền theo Điều 41

Khi Tòa án thụ lý vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án khác hoặc phát hiện vụ việc không thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án phải chuyển hồ sơ vụ việc cho Tòa án có thẩm quyền và xóa sổ thụ lý. Quy định này được ghi nhận tại khoản 1 Điều 41 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Việc chuyển vụ việc chỉ được thực hiện trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc trước khi Tòa án ra quyết định giải quyết việc dân sự, bảo đảm nguyên tắc không làm kéo dài thời gian giải quyết và tránh gây phiền hà cho đương sự.

Trong thực tiễn, trường hợp phổ biến là đương sự khởi kiện tại Tòa án nơi cư trú của bị đơn nhưng sau khi xác minh, Tòa án phát hiện bị đơn đã chuyển nơi cư trú sang địa phương khác trước thời điểm khởi kiện. Khi đó, Tòa án đã thụ lý phải ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền mới. Quyết định chuyển hồ sơ phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự và Tòa án được chuyển hồ sơ đến theo quy định tại khoản 2 Điều 41.

Về giải quyết tranh chấp thẩm quyền, khoản 3 Điều 41 quy định: khi có tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp trực tiếp có quyền giải quyết. Đối với tranh chấp giữa Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc tỉnh khác nhau hoặc giữa Tòa án nhân dân cấp tỉnh thuộc thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ khác nhau, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi một trong các Tòa án đó có trụ sở sẽ giải quyết. Trường hợp tranh chấp giữa Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc tỉnh khác nhau nhưng không cùng cấp tỉnh trực tiếp quản lý, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao giải quyết theo quy định tại khoản 4 Điều 41.

Quyết định giải quyết tranh chấp thẩm quyền là quyết định cuối cùng, có giá trị bắt buộc thi hành đối với các Tòa án liên quan. Tòa án được chỉ định giải quyết vụ việc phải tiến hành thụ lý và giải quyết theo đúng quy định, không được từ chối. Quy định này bảo đảo nguyên tắc tố tụng kịp thời, tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm giữa các Tòa án, bảo vệ quyền tiếp cận công lý của đương sự.

3. Thủ tục yêu cầu tuyên quyết định vô hiệu

Thủ tục yêu cầu Tòa án tuyên bố quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức vô hiệu được thực hiện theo trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự quy định tại Phần thứ năm Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Đây là thủ tục yêu cầu, không phải thủ tục khởi kiện vụ án, do đó không có nguyên đơn, bị đơn mà chỉ có người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Căn cứ Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án có thẩm quyền tuyên bố quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trái pháp luật xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự là vô hiệu. Theo khoản 1 Điều 41, thẩm quyền này thuộc Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cơ quan, tổ chức có trụ sở hoặc nơi người có thẩm quyền ra quyết định cư trú, làm việc.

Người yêu cầu phải nộp đơn yêu cầu kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh quyết định đó trái pháp luật và xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Đơn yêu cầu phải đáp ứng các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 362 Bộ luật Tố tụng dân sự, bao gồm họ tên, địa chỉ người yêu cầu; tên, địa chỉ cơ quan, tổ chức đã ra quyết định; nội dung quyết định bị yêu cầu tuyên vô hiệu; lý do, căn cứ yêu cầu.

Ví dụ thực tiễn: Ông A bị Ủy ban nhân dân xã X ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trái thẩm quyền. Ông A nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Y (nơi xã X có trụ sở) tuyên bố quyết định thu hồi này vô hiệu. Tòa án thụ lý, xác minh và nếu xét thấy quyết định ban hành không đúng thẩm quyền, không đúng trình tự, thủ tục thì ra quyết định tuyên bố vô hiệu theo khoản 3 Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hậu quả pháp lý là quyết định đó không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với ông A kể từ thời điểm ban hành.

Thời hạn giải quyết việc dân sự này là 30 ngày kể từ ngày thụ lý, có thể gia hạn nhưng không quá 30 ngày theo quy định tại Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người yêu cầu phải nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định, trừ trường hợp được miễn, giảm theo pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.

4. Thời hiệu khởi kiện

Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện phải thực hiện quyền đó; nếu hết thời hạn thì mất quyền khởi kiện. Đối với vụ án hành chính về quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức, thời hiệu khởi kiện được quy định tại Điều 34 và Điều 41 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (được hợp nhất tại 12 văn bản sửa đổi, bổ sung).

Theo khoản 1 Điều 34, thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính là 01 năm, kể từ ngày chủ thể biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm bởi quyết định cá biệt. Đây là điểm mấu chốt: thời điểm bắt đầu tính không phải ngày ban hành quyết định mà là ngày người khởi kiện biết hoặc phải biết quyền lợi bị xâm phạm. Khoản 2 Điều 34 quy định trường hợp người khởi kiện không có lỗi trong việc không biết quyền lợi bị xâm phạm trong thời hạn nêu trên thì thời hiệu được tính từ ngày họ biết được việc xâm phạm.

Điều 41 quy định về hậu quả của việc hết thời hiệu: Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện nếu hết thời hiệu, trừ trường hợp có căn cứ pháp luật về sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho người khởi kiện không thể khởi kiện đúng hạn. Trong trường hợp này, thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không tính vào thời hiệu.

Ví dụ thực tiễn: Ông A nhận được quyết định thu hồi đất của UBND huyện ngày 01/3/2023 nhưng quyết định không được giao trực tiếp, chỉ niêm yết tại trụ sở. Đến ngày 01/9/2023, ông A mới biết quyết định này. Thời hiệu khởi kiện 01 năm tính từ 01/9/2023, hết hạn vào 01/9/2024. Nếu ông A biết quyết định ngay từ ngày 01/3/2023 nhưng không khởi kiện, đến 02/3/2024 mới nộp đơn thì đã hết thời hiệu; Tòa án sẽ từ chối thụ lý, trừ khi ông A chứng minh được sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

Lưu ý: người khởi kiện phải chứng minh thời điểm biết quyền lợi bị xâm phạm; việc xác định thời hiệu có ý nghĩa quyết định đến quyền được Tòa án bảo vệ.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 hợp nhất 12 văn bản - Điều 34, 41
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.
Cần tư vấn cho trường hợp cụ thể?