Hiệu lực của hợp đồng và thời điểm phát sinh
Thời điểm hợp đồng có hiệu lực, trường hợp có thỏa thuận hoặc điều kiện và hợp đồng vô hiệu.
Hiệu lực của hợp đồng là vấn đề đầu tiên phải xác định trong bất kỳ tranh chấp hợp đồng nào. Không xác định được thời điểm phát sinh hiệu lực thì không thể xác định thời điểm phát sinh nghĩa vụ, thời điểm vi phạm, căn cứ phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại hay hủy bỏ hợp đồng. Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13) dành Tiểu mục 1 Mục 2 Chương XVI để giải quyết vấn đề giao kết hợp đồng, trong đó Điều 401 là điều khoản trung tâm về hiệu lực. Bài viết này phân tích Điều 401 trong mối liên hệ với Điều 400, Điều 402, Điều 403, Điều 405 và các quy định về hệ quả pháp lý, kèm trích dẫn nguyên văn điều luật để bạn đọc đối chiếu trực tiếp.
1. Thời điểm hợp đồng có hiệu lực theo Điều 401
Nguyên tắc nền tảng được quy định tại khoản 1 Điều 401 Bộ luật Dân sự 2015:
Điều 401. Hiệu lực của hợp đồng 1. Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác. 2. Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết. Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Ba yếu tố cần tách bạch trong khoản 1 Điều 401:
Thứ nhất, "giao kết hợp pháp". Đây là điều kiện tiên quyết. Hợp đồng giao kết hợp pháp là hợp đồng thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự: chủ thể có năng lực, ý chí tự nguyện, mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, hình thức phù hợp với quy định trong trường hợp luật yêu cầu. Hợp đồng giao kết không hợp pháp không thể "có hiệu lực từ thời điểm giao kết"; nó thuộc nhóm vô hiệu và hệ quả được giải quyết theo các điều 123 đến 133 Bộ luật Dân sự 2015, dẫn chiếu qua Điều 407.
Thứ hai, "thời điểm giao kết". Mốc này do Điều 400 xác định, không phải do ý chí chủ quan của các bên mô tả trong hợp đồng. Nguyên văn Điều 400:
Điều 400. Thời điểm giao kết hợp đồng
1. Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết.
2. Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó.
3. Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng.
4. Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản.
Trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói và sau đó được xác lập bằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định theo khoản 3 Điều này.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điểm đáng lưu ý trong khoản 4 Điều 400: với hợp đồng bằng văn bản, thời điểm giao kết là thời điểm bên sau cùng ký, không phải thời điểm bên đầu tiên ký hay thời điểm soạn thảo. Điều này có nghĩa chênh lệch vài ngày giữa hai bên ký hoàn toàn có thể làm dịch chuyển thời điểm phát sinh hiệu lực hợp đồng, kéo theo dịch chuyển thời hạn bảo lãnh, thời hạn xuất hóa đơn, thời hạn giao hàng tính theo ngày hiệu lực. Đoạn cuối khoản 4 cũng giải quyết một tình huống thực tiễn phổ biến: hợp đồng miệng đã hình thành nhưng sau đó mới lập văn bản. Trong trường hợp này, thời điểm giao kết (và do đó thời điểm có hiệu lực) được xác định theo thời điểm thỏa thuận miệng, không phải theo ngày ký văn bản. Văn bản chỉ có giá trị chứng cứ về nội dung, không làm thay đổi thời điểm phát sinh hiệu lực.
Thứ ba, "trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác". Đây là ngoại lệ đối với nguyên tắc. Hai nhóm ngoại lệ: ngoại lệ theo thỏa thuận (ý chí các bên) và ngoại lệ theo luật (ví dụ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải công chứng; một số giao dịch có hiệu lực khi đăng ký).
2. Trường hợp các bên có thỏa thuận khác
Các bên có thể thỏa thuận một thời điểm hiệu lực muộn hơn hoặc sớm hơn thời điểm giao kết. Thực tiễn soạn thảo thường gặp ba dạng thỏa thuận:
Dạng 1 — Hiệu lực sau khi giao kết: "Hợp đồng có hiệu lực kể từ ngày hai bên ký kết" hoặc "có hiệu lực từ ngày 01/11/2026". Với dạng này, giai đoạn giữa thời điểm giao kết và thời điểm có hiệu lực là khoảng trống pháp lý; hợp đồng chưa phát sinh quyền, nghĩa vụ thực thi. Rủi ro: nếu một bên cố tình đàm phán song song với bên thứ ba trong khoảng trống này, khó buộc trách nhiệm vi phạm hợp đồng vì hợp đồng chưa có hiệu lực; chỉ có thể xem xét trách nhiệm tiền hợp đồng.
Dạng 2 — Hiệu lực sau khi hoàn thành một sự kiện: giao đủ tiền đặt cọc, mở thư tín dụng, công chứng xong. Cần phân biệt điều kiện phát sinh hiệu lực với điều kiện thực hiện hợp đồng, vì chế tài cho hai loại này khác nhau.
Dạng 3 — Hiệu lực hồi tố: "Hợp đồng có hiệu lực từ ngày 01/01/2026" trong khi ký ngày 15/03/2026. Bộ luật Dân sự 2015 không có điều khoản nào cho phép hoặc cấm hồi tố hiệu lực, nhưng hồi tố hiệu lực không thể làm thay đổi bản chất sự kiện pháp lý đã xảy ra. Về nguyên tắc, thỏa thuận hồi tố chỉ được tôn trọng khi không xâm phạm quyền của người thứ ba và không trái quy định về thời hiệu, về nghĩa vụ thuế phát sinh tại thời điểm thực tế.
Ngoài ra, cần lưu ý Điều 403 về phụ lục hợp đồng, vì thời điểm hiệu lực của phụ lục là câu hỏi thường gặp:
Điều 403. Phụ lục hợp đồng
1. Hợp đồng có thể có phụ lục kèm theo để quy định chi tiết một số điều khoản của hợp đồng. Phụ lục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng. Nội dung của phụ lục hợp đồng không được trái với nội dung của hợp đồng.
2. Trường hợp phụ lục hợp đồng có điều khoản trái với nội dung của điều khoản trong hợp đồng thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp các bên chấp nhận phụ lục hợp đồng có điều khoản trái với điều khoản trong hợp đồng thì coi như điều khoản đó trong hợp đồng đã được sửa đổi.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Theo khoản 1, phụ lục có hiệu lực như hợp đồng, nên nếu phụ lục không có thỏa thuận riêng về hiệu lực thì phụ lục phát sinh hiệu lực tại thời điểm giao kết phụ lục. Doanh nghiệp nên ghi rõ "Phụ lục này có hiệu lực kể từ ngày ký và là bộ phận không tách rời của Hợp đồng số ..." để tránh tranh luận về mối quan hệ giữa hai văn bản.
Về hợp đồng theo mẫu, khoản 3 Điều 405 Bộ luật Dân sự 2015 giới hạn hiệu lực của các điều khoản bất lợi:
Điều 405. Hợp đồng theo mẫu
3. Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều này dẫn tới hệ quả quan trọng: hợp đồng có thể có hiệu lực từ thời điểm giao kết, nhưng cá biệt một điều khoản trong đó không có hiệu lực. Hiệu lực hợp đồng và hiệu lực từng điều khoản là hai cấp độ khác nhau; hợp đồng không bị vô hiệu toàn bộ chỉ vì một điều khoản miễn trách vô hiệu.
3. Hợp đồng có điều kiện
Khoản 6 Điều 402 Bộ luật Dân sự 2015 định nghĩa:
Điều 402. Các loại hợp đồng chủ yếu
1. Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau.
2. Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ.
3. Hợp đồng chính là hợp đồng mà hiệu lực không phụ thuộc vào hợp đồng phụ.
4. Hợp đồng phụ là hợp đồng mà hiệu lực phụ thuộc vào hợp đồng chính.
5. Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng mà các bên giao kết hợp đồng đều phải thực hiện nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích từ việc thực hiện nghĩa vụ đó.
6. Hợp đồng có điều kiện là hợp đồng mà việc thực hiện phụ thuộc vào việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một sự kiện nhất định.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Cần đọc chính xác ngôn ngữ của khoản 6: hợp đồng có điều kiện là hợp đồng mà việc thực hiện phụ thuộc vào sự kiện. Điều luật nói về việc thực hiện, không nói về hiệu lực. Đây là điểm dễ nhầm. Theo nghĩa của khoản 6, hợp đồng có điều kiện vẫn phát sinh hiệu lực theo khoản 1 Điều 401; chỉ nghĩa vụ thực hiện bị treo cho đến khi sự kiện xảy ra hoặc không xảy ra.
Tuy nhiên, khoản 1 Điều 401 cho phép các bên thỏa thuận khác. Do đó, trên thực tế tồn tại hai loại điều kiện và hậu quả pháp lý khác nhau:
Điều kiện phát sinh hiệu lực (điều kiện treo hiệu lực): ví dụ "Hợp đồng này chỉ có hiệu lực sau khi Bên A được cấp Giấy chứng nhận đầu tư". Trước khi sự kiện xảy ra, hợp đồng chưa có hiệu lực; các bên chưa phải thực hiện nghĩa vụ; nếu sự kiện không xảy ra do nguyên nhân khách quan, hợp đồng không bao giờ phát sinh hiệu lực và về nguyên tắc không phát sinh trách nhiệm bồi thường, trừ khi có thỏa thuận phạt hoặc có hành vi cản trở.
Điều kiện thực hiện nghĩa vụ: ví dụ "Bên B thanh toán trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ nghiệm thu". Hợp đồng đã có hiệu lực, nghĩa vụ đã phát sinh, chỉ chưa đến hạn thực hiện. Việc chậm hoàn thành điều kiện có thể bị coi là vi phạm nghĩa vụ hợp tác, thiện chí và dẫn tới trách nhiệm bồi thường.
Về xác định thời điểm hiệu lực của hợp đồng có điều kiện, thực tiễn xét xử căn cứ vào ý chí chung của các bên nhiều hơn là ngôn từ. Điều 404 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
Điều 404. Giải thích hợp đồng
1. Khi hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì việc giải thích điều khoản đó không chỉ dựa vào ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí của các bên được thể hiện trong toàn bộ quá trình trước, tại thời điểm xác lập, thực hiện hợp đồng.
2. Khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngôn từ có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau thì phải giải thích theo nghĩa phù hợp nhất với mục đích, tính chất của hợp đồng.
5. Trường hợp có sự mâu thuẫn giữa ý chí chung của các bên với ngôn từ sử dụng trong hợp đồng thì ý chí chung của các bên được dùng để giải thích hợp đồng.
6. Trường hợp bên soạn thảo đưa vào hợp đồng nội dung bất lợi cho bên kia thì khi giải thích hợp đồng phải theo hướng có lợi cho bên kia.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Khoản 6 Điều 404 là quy tắc contra proferentem của pháp luật Việt Nam. Với hợp đồng có điều kiện do một bên soạn thảo, nếu điều khoản điều kiện mơ hồ, hướng giải thích bất lợi thuộc về bên soạn thảo. Do đó bên soạn thảo có lợi thế trong việc xác lập nghĩa vụ nhưng lại chịu rủi ro về ngôn từ; cần soạn điều khoản điều kiện đủ chặt, xác định rõ chủ thể thực hiện, thời hạn, tiêu chí hoàn thành và hậu quả khi điều kiện không xảy ra.
Một điểm liên quan: Điều 406 Bộ luật Dân sự 2015 về điều kiện giao dịch chung cũng giới hạn hiệu lực của các điều khoản bất bình đẳng, với cấu trúc ngoại lệ tương tự Điều 405 khoản 3. Khi hợp đồng viện dẫn một văn bản điều kiện giao dịch chung không được công khai để bên kia biết hoặc phải biết, điều kiện đó không có hiệu lực với bên xác lập giao dịch.
4. Hệ quả pháp lý
Khoản 2 Điều 401 xác lập ba hệ quả chính.
Hệ quả thứ nhất — nghĩa vụ thực thi phát sinh. Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết. Đối với hợp đồng song vụ, Điều 410 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:"Trong hợp đồng song vụ, khi các bên đã thỏa thuận thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì mỗi bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn; không được hoãn thực hiện với lý do bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ đối với mình, trừ trường hợp quy định tại Điều 411 và Điều 413 của Bộ luật này." Nguyên tắc này lập tức loại bỏ lập luận "bên kia chưa làm nên tôi không làm" trong trường hợp thời hạn đã được xác định cụ thể. Ngoại lệ hoãn thực hiện chỉ mở khi khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên kia giảm sút nghiêm trọng (Điều 411) hoặc khi nghĩa vụ không thực hiện được do lỗi của bên kia (Điều 413).
Hệ quả thứ hai — hợp đồng đã có hiệu lực chỉ được sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận hoặc theo luật. Đây là hệ quả bị đánh giá thấp nhất trong thực tiễn. Khi hợp đồng đã có hiệu lực, một bên không thể đơn phương "rút lại" cam kết chỉ vì thấy không còn có lợi. Mọi thay đổi phải qua kênh thỏa thuận (Điều 421) hoặc qua căn cứ luật định như hoàn cảnh thay đổi cơ bản (Điều 420), hủy bỏ do vi phạm nghiêm trọng (Điều 423), chấm dứt theo Điều 422.
Hệ quả thứ ba — cơ chế chế tài phát sinh. Khi hợp đồng có hiệu lực, thỏa thuận phạt vi phạm theo Điều 418 mới có căn cứ áp dụng:
Điều 418. Thỏa thuận phạt vi phạm
1. Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.
2. Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
3. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Hệ quả thực tiễn của khoản 3 rất rõ: nếu hợp đồng chỉ ghi "phạt 8% giá trị hợp đồng" mà không ghi thêm "và bồi thường thiệt hại", bên vi phạm chỉ chịu phạt vi phạm. Doanh nghiệp muốn bảo vệ đầy đủ phải ghi rõ hai chế tài là độc lập, không loại trừ nhau. Ngoài ra, hệ thống pháp luật có giới hạn phạt vi phạm riêng theo từng lĩnh vực; trong lĩnh vực thương mại mức phạt tối đa 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm theo Luật Thương mại 2005.
Hệ quả về chấm dứt và vô hiệu. Cần phân biệt hai con đường. Điều 422 liệt kê các trường hợp chấm dứt hợp đồng:
Điều 422. Chấm dứt hợp đồng
Hợp đồng chấm dứt trong trường hợp sau đây:
1. Hợp đồng đã được hoàn thành;
2. Theo thỏa thuận của các bên;
3. Cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân giao kết hợp đồng chấm dứt tồn tại mà hợp đồng phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện;
4. Hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện;
5. Hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn;
6. Hợp đồng chấm dứt theo quy định tại Điều 420 của Bộ luật này;
7. Trường hợp khác do luật quy định.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Khác với chấm dứt, vô hiệu là tình trạng hợp đồng không phát sinh hiệu lực ngay từ đầu hoặc bị tuyên bố không có hiệu lực. Điều 407 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
Điều 407. Hợp đồng vô hiệu
1. Quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 123 đến Điều 133 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu.
2. Sự vô hiệu của hợp đồng chính làm chấm dứt hợp đồng phụ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hợp đồng phụ được thay thế hợp đồng chính. Quy định này không áp dụng đối với biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
3. Sự vô hiệu của hợp đồng phụ không làm chấm dứt hợp đồng chính, trừ trường hợp các bên thỏa thuận hợp đồng phụ là một phần không thể tách rời của hợp đồng chính.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Khoản 2 Điều 407 có ngoại lệ quan trọng: vô hiệu hợp đồng chính không kéo theo vô hiệu biện pháp bảo đảm. Đây là quy định bảo vệ qu
Công ty Luật Minh Bạch
P703, tầng 7, số 272 Khương Đình, P. Khương Đình, TP. Hà Nội.
📞 0987 892 333
Dịch vụ
Đất đai & nhà ở Hôn nhân & gia đình Doanh nghiệp Hợp đồng & dân sự Tố tụng dân sự & hành chính Tranh chấp kinh doanh, thương mại Sở hữu trí tuệ Thừa kế & di chúc Lao độngKiến thức
Bài viết pháp lý Câu hỏi thường gặp Giới thiệuLiên hệ
Gửi thông tin vụ việc 📘 Fanpage Facebook Chính sách bảo mậtNội dung trên website chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức cho từng vụ việc cụ thể.
© 2026 Công ty Luật Minh Bạch. Bảo lưu mọi quyền.
📞 💬