Bỏ qua điều hướng
Hỏi Đáp Pháp Luật

Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài

Tư pháp07/10/2026

Phân tích thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của trọng tài theo pháp luật về trọng tài thương mại và thương mại.

tranh-chap-kd-tm · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/10

Điều 2. Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài 1. Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại. 2. Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại. 3. Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Nội dung Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010

Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010 (Luật số 54/2010/QH12) là điều khoản "mở cửa" xác định phạm vi thẩm quyền của Trọng tài thương mại Việt Nam. Điều luật liệt kê ba nhóm tranh chấp thuộc thẩm quyền trọng tài, theo đó phạm vi thẩm quyền không chỉ giới hạn ở tranh chấp thuần túy thương mại giữa các thương nhân mà còn mở rộng sang tranh chấp có ít nhất một bên có hoạt động thương mại, và các tranh chấp khác do pháp luật quy định.

Điều 2. Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài

1. Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.

2. Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại.

3. Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Khoản 1 hướng đến tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại — tức cả hai bên đều tham gia hoạt động thương mại. Khoản 2 mở rộng hơn: chỉ cần một bên có hoạt động thương mại là đủ, bất kể bên còn lại là cá nhân tiêu dùng, tổ chức phi thương mại hay chủ thể khác. Đây là điểm khác biệt căn bản so với Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 trước đây, vốn yêu cầu tranh chấp phải phát sinh từ hoạt động thương mại giữa các bên. Khoản 3 là điều khoản dẫn chiếu, mở rộng thẩm quyền trọng tài sang các lĩnh vực khác khi pháp luật chuyên ngành cho phép, ví dụ tranh chấp lao động, tranh chấp đầu tư theo Luật Đầu tư, một số tranh chấp dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Khái niệm "hoạt động thương mại" được hiểu theo Luật Thương mại 2005: hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Việc xác định một bên "có hoạt động thương mại" cần căn cứ vào đăng ký kinh doanh, ngành nghề, tính chất thường xuyên của giao dịch, không chỉ dựa vào một thương vụ đơn lẻ.

2. Điều kiện và thủ tục áp dụng

Thẩm quyền trọng tài theo Điều 2 chỉ phát huy hiệu lực khi hội đủ hai điều kiện: (i) tranh chấp thuộc một trong ba nhóm tại Điều 2, và (ii) các bên có thỏa thuận trọng tài hợp lệ. Điều 5 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định điều kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài.

Điều 5. Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài

1. Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp.

2. Trường hợp một bên tham gia thoả thuận trọng tài là cá nhân chết hoặc mất năng lực hành vi, thoả thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với người thừa kế hoặc người đại diện theo pháp luật của người đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.

3. Trường hợp một bên tham gia thỏa thuận trọng tài là tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị phá sản, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách hoặc chuyển đổi hình thức tổ chức, thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với tổ chức tiếp nhận quyền và nghĩa vụ của tổ chức đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Thỏa thuận trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn bản theo Điều 16. Hình thức văn bản được hiểu rộng, bao gồm điều khoản trọng tài trong hợp đồng, thỏa thuận riêng, trao đổi qua telegram, fax, telex, thư điện tử, trao đổi thông tin bằng văn bản, ghi chép của luật sư/công chứng viên, dẫn chiếu trong giao dịch, hoặc qua trao đổi đơn kiện và bản tự bảo vệ mà một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận.

Điều 16. Hình thức thoả thuận trọng tài

1. Thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng.

2. Thoả thuận trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn bản. Các hình thức thỏa thuận sau đây cũng được coi là xác lập dưới dạng văn bản:

a) Thoả thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;

b) Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên;

c) Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên;

d) Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác;

đ) Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Hệ quả pháp lý quan trọng: khi đã có thỏa thuận trọng tài, Tòa án phải từ chối thụ lý nếu một bên khởi kiện tại Tòa, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện được.

Điều 6. Toà án từ chối thụ lý trong trường hợp có thoả thuận trọng tài

Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Thủ tục áp dụng trên thực tế: nguyên đơn nộp đơn khởi kiện tại Trung tâm trọng tài hoặc đề nghị thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc, kèm thỏa thuận trọng tài và tài liệu chứng minh tranh chấp thuộc Điều 2. Bị đơn có quyền phản đối thẩm quyền của Hội đồng trọng tài trước khi Hội đồng xem xét nội dung vụ việc. Nếu bị đơn không phản đối kịp thời và tiếp tục tố tụng, có thể mất quyền phản đối theo Điều 13.

Điều 13. Mất quyền phản đối

Trong trường hợp một bên phát hiện có vi phạm quy định của Luật này hoặc của thỏa thuận trọng tài mà vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng trọng tài và không phản đối những vi phạm trong thời hạn do Luật này quy định thì mất quyền phản đối tại Trọng tài hoặc Tòa án.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Trường hợp bên tranh chấp cho rằng tranh chấp không thuộc thẩm quyền trọng tài theo Điều 2, họ có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài xem xét thẩm quyền. Quyết định của Hội đồng về thẩm quyền có thể bị khiếu nại ra Tòa án có thẩm quyền theo Điều 7 khoản 2 điểm c. Song song, thỏa thuận trọng tài vô hiệu theo Điều 18 khi tranh chấp không thuộc thẩm quyền trọng tài quy định tại Điều 2 — đây là mối liên hệ trực tiếp giữa Điều 2 và Điều 18.

Điều 18. Thoả thuận trọng tài vô hiệu

1. Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài quy định tại Điều 2 của Luật này.

2. Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

3. Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự.

4. Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của Luật này.

5. Một trong các bên bị lừa dối, đe dọa hoặc có sự nhầm lẫn nghiêm trọng trong việc xác lập thoả thuận trọng tài.

6. Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

3. Lưu ý thực tiễn

Thứ nhất, xác định đúng "hoạt động thương mại". Nhiều tranh chấp bị đối phương phản đối thẩm quyền trọng tài vì cho rằng giao dịch không mang tính thương mại. Cần phân biệt: mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại là thương mại; còn giao dịch dân sự thuần túy, hôn nhân gia đình, thừa kế thường không thuộc Điều 2 khoản 1 và 2, trừ khi pháp luật chuyên ngành cho phép theo khoản 3. Doanh nghiệp nên lưu giữ chứng cứ về ngành nghề đăng ký, tính chất thường xuyên của giao dịch, mục đích sinh lợi.

Thứ hai, người tiêu dùng vẫn có quyền chọn Tòa. Với tranh chấp giữa nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng, dù điều khoản trọng tài đã ghi trong điều kiện chung do nhà cung cấp soạn sẵn, người tiêu dùng vẫn được quyền lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án. Nhà cung cấp chỉ được khởi kiện tại Trọng tài nếu được người tiêu dùng chấp thuận.

Điều 17. Quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng

Đối với các tranh chấp giữa nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng, mặc dù điều khoản trọng tài đã được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn thỏa thuận trọng tài thì người tiêu dùng vẫn được quyền lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án để giải quyết tranh chấp. Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ chỉ được quyền khởi kiện tại Trọng tài nếu được người tiêu dùng chấp thuận.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Thứ ba, thỏa thuận trọng tài vô hiệu khi tranh chấp ngoài phạm vi Điều 2. Điều 18 khoản 1 dẫn chiếu trực tiếp Điều 2. Nếu tranh chấp không thuộc một trong ba nhóm tại Điều 2, thỏa thuận trọng tài vô hiệu và Tòa án có thể thụ lý. Do đó, khi soạn thảo điều khoản trọng tài, cần rà soát lĩnh vực giao dịch có thuộc thẩm quyền trọng tài hay không.

Thứ tư, phân biệt thẩm quyền trọng tài với thẩm quyền Tòa án đối với hoạt động trọng tài. Điều 2 nói về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài; còn Điều 7 nói về thẩm quyền của Tòa án đối với hoạt động trọng tài (chỉ định Trọng tài viên, thay đổi Trọng tài viên, giải quyết khiếu nại về thẩm quyền, thu thập chứng cứ, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, triệu tập người làm chứng, hủy phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc). Hai loại thẩm quyền này không thay thế nhau mà bổ trợ nhau.

Điều 7. Xác định Toà án có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài

1. Trường hợp các bên đã có thỏa thuận lựa chọn một Tòa án cụ thể thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án được các bên lựa chọn.

2. Trường hợp các bên không có thỏa thuận lựa chọn Tòa án thì thẩm quyền của Tòa án được xác định như sau:

a) Đối với việc chỉ định Trọng tài viên để thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi cư trú của bị đơn nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của bị đơn nếu bị đơn là tổ chức. Trường hợp có nhiều bị đơn thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở của một trong các bị đơn đó.

Trường hợp bị đơn có nơi cư trú hoặc trụ sở ở nước ngoài thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn;

b) Đối với việc thay đổi Trọng tài viên của Hội đồng trọng tài vụ việc thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp;

c) Đối với yêu cầu giải quyết khiếu nại quyết định của Hội đồng trọng tài về thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi Hội đồng trọng tài ra quyết định;

d) Đối với yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi có chứng cứ cần được thu thập;

đ) Đối với yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng;

e) Đối với việc triệu tập người làm chứng thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi cư trú của người làm chứng;

g) Đối với yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi Hội đồng trọng tài đã tuyên phán quyết trọng tài.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Thứ năm, tranh chấp có yếu tố nước ngoài. Điều 2 không giới hạn tranh chấp trong nước. Tranh chấp có yếu tố nước ngoài, tranh chấp mà một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn thuộc thẩm quyền trọng tài nếu đáp ứng Điều 2. Luật áp dụng được xác định theo Điều 14: tranh chấp không có yếu tố nước ngoài áp dụng pháp luật Việt Nam; tranh chấp có yếu tố nước ngoài áp dụng luật do các bên lựa chọn, nếu không có thỏa thuận thì Hội đồng trọng tài quyết định luật phù hợp nhất.

Điều 14. Luật áp dụng giải quyết tranh chấp

1. Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp.

2. Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn; nếu các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồng trọng tài quyết định áp dụng pháp luật mà Hội đồng trọng tài cho là phù hợp nhất.

3. Trường hợp pháp luật Việt Nam, pháp luật do các bên lựa chọn không có quy định cụ thể liên quan đến nội dung tranh chấp thì Hội đồng trọng tài được áp dụng tập quán quốc tế để giải quyết tranh chấp nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Thứ sáu, nguyên tắc giải quyết tranh chấp. Khi thụ lý vụ việc thuộc Điều 2, Hội đồng trọng tài phải tuân thủ các nguyên tắc tại Điều 4: tôn trọng thỏa thuận của các bên nếu không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội; độc lập, khách quan, vô tư; các bên bình đẳng; giải quyết không công khai trừ khi các bên thỏa thuận khác; phán quyết trọng tài là chung thẩm.

Điều 4. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài

1. Trọng tài viên phải tôn trọng thoả thuận của các bên nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội.

2. Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định của pháp luật.

3. Các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Hội đồng trọng tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.

4. Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

5. Phán quyết trọng tài là chung thẩm.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

4. Kết luận

Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010 xác lập phạm vi thẩm quyền trọng tài theo ba nhóm: tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại; tranh chấp có ít nhất một bên có hoạt động thương mại; tranh chấp khác do pháp luật quy định. Thẩm quyền này chỉ được kích hoạt khi có thỏa thuận trọng tài hợp lệ bằng văn bản theo Điều 16, và Tòa án phải từ chối thụ lý nếu đã có thỏa thuận trọng tài, trừ trường hợp thỏa thuận vô hiệu hoặc không thể thực hiện được. Doanh nghiệp và cá nhân khi giao kết hợp đồng nên rà soát kỹ phạm vi Điều 2, hình thức thỏa thuận trọng tài, và các trường hợp vô hiệu theo Điều 18 để tránh rủi ro tranh chấp về thẩm quyền. Với tranh chấp tiêu dùng, cần lưu ý quyền lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án của người tiêu dùng theo Điều 17.

Việc xác định đúng thẩm quyền trọng tài ngay từ giai đoạn đàm phán, soạn thảo hợp đồng giúp tiết kiệm thời gian, chi phí và tránh việc phải hủy phán quyết hoặc khởi kiện lại tại Tòa án. Trường hợp có tranh chấp phát sinh, nên tham vấn luật sư chuyên về trọng tài thương mại để đánh giá thẩm quyền trước khi nộp đơn khởi kiện.

Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Mỗi vụ việc có tình tiết riêng; vui lòng liên hệ Công ty Luật Minh Bạch để được tư vấn cụ thể theo quy định pháp luật hiện hành.
Cần tư vấn cho trường hợp cụ thể?