Bỏ qua điều hướng
Hỏi Đáp Pháp Luật

Điều 9 BLTTHS 2015: Tiến hành tố tụng theo thẩm quyền

Tư pháp09/10/2026

Phân tích Điều 9 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về nguyên tắc thực hiện hoạt động tố tụng theo đúng thẩm quyền.

Hình sự · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/10

Điều 9. Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật Tố tụng hình sự được tiến hành theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật. Mọi pháp nhân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Nội dung Điều 9 BLTTHS 2015

Điều 9. Tiến hành tố tụng theo thẩm quyền

Nội dung: "Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tiến hành tố tụng theo thẩm quyền của mình; không được giao hoặc làm thay nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác."

Phân tích

  • Chủ thể: cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng (Điều 4 BLTTHS 2015).
  • Nghĩa vụ: tiến hành tố tụng đúng thẩm quyền. Cấm giao thay, làm thay thẩm quyền.
  • Nối với Điều 2 (nhiệm vụ): phát hiện chính xác, xử lý công minh, kịp thời; không lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Đúng thẩm quyền bảo đảm các mục tiêu này.
  • Nối với Điều 15 (xác định sự thật): trách nhiệm chứng minh thuộc cơ quan có thẩm quyền; làm thay thẩm quyền phá vỡ trật tự chứng minh.

Ví dụ thực tiễn

Cơ quan Cảnh sát điều tra cấp huyện tự mình khởi tố vụ án thuộc thẩm quyền Cơ quan An ninh điều tra. Hành vi làm thay thẩm quyền. Hậu quả: quyết định khởi tố không hợp pháp, Viện kiểm sát phải hủy theo thẩm quyền; tài liệu, chứng cứ thu thập có thể bị loại trừ.

Hệ quả pháp lý

  • Văn bản tố tụng ban hành sai thẩm quyền: không có giá trị pháp lý.
  • Người có thẩm quyền vi phạm: bị xử lý kỷ luật, trách nhiệm theo quy định pháp luật.
  • Chứng cứ thu thập trái thẩm quyền: có thể không được dùng để chứng minh (Điều 87, 88 BLTTHS 2015 về giá trị chứng cứ).
  • Phải chuyển hồ sơ, vụ án đến cơ quan, người có thẩm quyền đúng theo quy định.

Kết luận

Điều 9 khẳng định nguyên tắc pháp chế trong tố tụng hình sự: mỗi chủ thể chỉ làm việc trong phạm vi thẩm quyền. Bảo đảm trật tự tố tụng, quyền con người, quyền công dân theo Điều 2 và Điều 15 BLTTHS 2015.

2. Nguyên tắc hoạt động theo thẩm quyền

Nguyên tắc hoạt động theo thẩm quyền là nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự, được quy định tại Điều 9 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 (VBHN 17/2026/VBHN-VPQH). Nội dung nguyên tắc: mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được tiến hành bởi cơ quan, người có thẩm quyền theo đúng trình tự, thủ tục luật định; nghiêm cấm xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

Nguyên tắc này xuất phát từ Điều 2 BLTTHS 2015 về nhiệm vụ bảo đảm phát hiện chính xác, xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội; không làm oan người vô tội. Đồng thời gắn với Điều 15 BLTTHS 2015 về xác định sự thật khách quan: trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Hệ quả pháp lý: hành vi tố tụng do chủ thể không có thẩm quyền thực hiện là vi phạm nghiêm trọng, có thể dẫn đến vô hiệu. Ví dụ: Điều tra viên không có quyết định phân công điều tra mà tiến hành khám xét — kết quả khám xét không hợp pháp. Hoặc: Viện kiểm sát khởi tố vụ án thuộc thẩm quyền Cơ quan điều tra — quyết định khởi tố trái thẩm quyền.

Nguyên tắc đòi hỏi: cơ quan tiến hành tố tụng chỉ được làm điều luật cho phép; người tiến hành tố tụng phải trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Mọi hành vi lạm quyền, vượt thẩm quyền đều bị xử lý theo pháp luật.

Thực tiễn: nhiều vụ án bị hủy, trả hồ sơ điều tra bổ sung do vi phạm thẩm quyền (khởi tố, điều tra, truy tố). Do đó, tuân thủ thẩm quyền là bảo đảm tính hợp pháp của toàn bộ hoạt động tố tụng.

3. Hệ quả khi vượt thẩm quyền

Điều 9 BLTTHS 2015 buộc mọi hoạt động tố tụng phải đúng thẩm quyền. Vượt thẩm quyền = hành vi tố tụng vô hiệu.

Hệ quả pháp lý:

  • Vô hiệu: Quyết định, hành vi tố tụng do cơ quan/người không có thẩm quyền ban hành không có giá trị pháp lý. Không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ tố tụng.
  • Hủy bỏ: Cơ quan có thẩm quyền cấp trên hủy quyết định trái thẩm quyền; trả hồ sơ điều tra lại hoặc đình chỉ theo Điều 2 BLTTHS (bảo đảm xử lý công minh, không làm oan người vô tội).
  • Không xác định sự thật: Chứng cứ thu thập vượt thẩm quyền không bảo đảm tính hợp pháp, vi phạm Điều 15 BLTTHS (xác định sự thật khách quan, toàn diện, đầy đủ).
  • Trách nhiệm: Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng vượt thẩm quyền bị xử lý kỷ luật, trách nhiệm hình sự tùy mức độ.

Ví dụ: Điều tra viên cấp huyện ra lệnh khám xét ngoài địa bàn phụ trách, không được Viện trưởng phê chuẩn. Lệnh khám xét vô hiệu; vật chứng thu được không dùng làm chứng cứ; Viện kiểm sát hủy bỏ, yêu cầu khám xét lại đúng thẩm quyền.

Hệ quả tố tụng: Thời hạn tố tụng bị kéo dài; hồ sơ bị trả lại; người bị buộc tội được khôi phục quyền. Nghiêm trọng hơn, vượt thẩm quyền dẫn đến đình chỉ vụ án vì không thể khắc phục.

Kết luận: Điều 9 không chỉ là nguyên tắc — vi phạm kéo theo vô hiệu, hủy bỏ, loại trừ chứng cứ và trách nhiệm pháp lý. Tuân thủ thẩm quyền là điều kiện tiên quyết bảo đảm Điều 2 và Điều 15 BLTTHS.

4. Phối hợp giữa các cơ quan tố tụng

Căn cứ: Điều 9, Điều 2, Điều 15 BLTTHS 2015 (VBHN 17/2026/VBHN-VPQH).

Điều 9 BLTTHS 2015 quy định: cơ quan tiến hành tố tụng phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tố tụng; chịu trách nhiệm trước pháp luật về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn. Phối hợp không xóa bỏ thẩm quyền riêng — mỗi cơ quan vẫn chịu trách nhiệm độc lập.

Mục đích phối hợp gắn Điều 2: phát hiện chính xác, xử lý công minh, kịp thời; không lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Gắn Điều 15: xác định sự thật khách quan, không bỏ sót, không suy đoán. Phối hợp là phương tiện đạt hai mục tiêu này.

Nội dung phối hợp thực tiễn:

  • Công an – Viện kiểm sát: CQĐT báo cáo việc khởi tố, kết quả điều tra; VKS kiểm sát, phê chuẩn lệnh bắt, gia hạn tạm giữ.
  • VKS – Tòa án: chuyển hồ sơ, đề nghị xét xử; Tòa trả hồ sơ bổ sung khi thiếu chứng cứ.
  • CQĐT – Tòa án – VKS: phối hợp thu thập chứng cứ, trưng cầu giám định, triệu tập người làm chứng.
  • Cơ quan được giao nhiệm vụ điều tra: chuyển hồ sơ đúng thẩm quyền khi phát hiện vượt phạm vi (Điều 4(a)).

Ví dụ: vụ trộm cắp tài sản. CQĐT thu thập chứng cứ, VKS phê chuẩn lệnh khám xét, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử. Nếu VKS không phê chuẩn, CQĐT không được khám xét — phối hợp đúng thẩm quyền.

Giới hạn: không chuyển thẩm quyền, không thay thế quyết định. Mỗi cơ quan chịu trách nhiệm phần việc mình. Phối hợp sai thẩm quyền = vi phạm Điều 9.

Kết: phối hợp đúng thẩm quyền bảo đảm tố tụng nhanh, chính xác, đúng pháp luật.

5. Bảo đảm pháp chế

Bảo đảm pháp chế là nguyên tắc nền tảng của tố tụng hình sự, đòi hỏi mọi hoạt động tố tụng phải được tiến hành đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục luật định. Điều 9 BLTTHS 2015 (VBHN 17/2026/VBHN-VPQH) khẳng định: không được tiến hành tố tụng ngoài thẩm quyền, trái quy định; mọi hành vi vi phạm phải được xử lý nghiêm.

Nguyên tắc này gắn chặt với Điều 2 BLTTHS 2015 về nhiệm vụ: bảo đảm phát hiện chính xác, xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội; không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Đồng thời Điều 15 BLTTHS 2015 yêu cầu xác định sự thật khách quan, mọi chứng cứ phải được kiểm tra công khai, đầy đủ. Ba điều luật tạo chỉnh thể: thẩm quyền hợp pháp — sự thật khách quan — xử lý công minh.

Ví dụ thực tiễn: Điều tra viên tự ý khám xét nhà khi chưa có lệnh phê chuẩn của VKSND theo Điều 193 BLTTHS 2015. Hành vi này vượt thẩm quyền, vi phạm Điều 9. Hậu quả: tài liệu, chứng cứ thu được có thể bị loại bỏ; người vi phạm bị xử lý kỷ luật, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 157 BLHS 2015 nếu gây hậu quả nghiêm trọng.

Hoặc trường hợp Hội đồng xét xử tuyên án dựa trên chứng cứ chưa được thẩm tra tại phiên tòa — vi phạm Điều 15 và Điều 9. Bản án có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm (Điều 371, Điều 397 BLTTHS 2015).

Bảo đảm pháp chế không chỉ bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp 2013 mà còn củng cố niềm tin vào công lý. Mọi chủ thể tố tụng — cơ quan, người có thẩm quyền — phải tuân thủ nghiêm ngặt; không có ngoại lệ.

6. Lưu ý thực tiễn

Lưu ý thực tiễn

Điều 9 BLTTHS 2015 yêu cầu tố tụng phải tiến hành đúng thẩm quyền. Thực tiễn cho thấy vi phạm thẩm quyền là căn cứ hủy bỏ, kháng nghị nhiều bản án, quyết định. Cần lưu ý:

  • Xác định đúng cấp, loại thẩm quyền ngay từ đầu. Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử phải do cơ quan, người có thẩm quyền tương ứng thực hiện. Ví dụ: Cơ quan điều tra cấp huyện không được điều tra tội thuộc thẩm quyền cấp tỉnh nếu chưa có quyết định phân công theo Điều 35, 36 BLTTHS. Sai thẩm quyền dẫn tới tài liệu, chứng cứ thu thập không hợp pháp, phải loại bỏ.
  • Không suy đoán, mở rộng thẩm quyền. Điều 2 BLTTHS đặt nhiệm vụ phát hiện chính xác, xử lý công minh, không bỏ lọt, không làm oan. Việc làm thay, làm vượt thẩm quyền dễ dẫn tới oan sai. Ví dụ: Viện kiểm sát không được trực tiếp điều tra thay Cơ quan điều tra, trừ trường hợp BLTTHS quy định rõ (Điều 165, 166 BLTTHS).
  • Gắn thẩm quyền với xác định sự thật. Điều 15 BLTTHS yêu cầu chứng minh khách quan, toàn diện, đầy đủ. Nếu thẩm quyền bị đặt sai, quá trình thu thập chứng cứ sẽ thiếu, phiến diện, ảnh hưởng trực tiếp kết quả giải quyết. Ví dụ: chuyển hồ sơ sai cấp khiến thời hạn điều tra, tạm giữ bị kéo dài, quyền bào chữa bị hạn chế.
  • Kiểm tra thẩm quyền trước khi ra quyết định tố tụng. Mọi quyết định khởi tố, thay đổi tội danh, tạm giam, truy tố, xét xử phải rà soát thẩm quyền. Thực tiễn nhiều vụ án bị hủy do Tòa án cấp dưới xét xử tội không thuộc thẩm quyền hoặc Viện kiểm sát truy tố vượt thẩm quyền.

Hệ quả: hành vi tố tụng trái thẩm quyền có thể bị hủy bỏ (Điều 4, 9 BLTTHS); nếu gây hậu quả nghiêm trọng, người có thẩm quyền có thể bị xử lý theo pháp luật. Người tham gia tố tụng cần được thông báo và có quyền khiếu nại, yêu cầu thay đổi người có thẩm quyền khi phát hiện vi phạm.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 (VBHN 17/2026/VBHN-VPQH) - Điều 9
  • Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 (VBHN 17/2026/VBHN-VPQH) - Điều 2 về nhiệm vụ
  • Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 (VBHN 17/2026/VBHN-VPQH) - Điều 15 về xác định sự thật
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.
Cần tư vấn cho trường hợp cụ thể?