Bỏ qua điều hướng
Hỏi Đáp Pháp Luật

Bình luận Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình

Hôn nhân & Gia đình12/10/2026

Phân tích Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (52/2014/QH13) về bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình và thực tiễn áp dụng.

Hôn nhân & Gia đình · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/10

Điều 5. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình 1. Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện theo quy định của Luật này được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. 2. Cấm các hành vi sau đây: a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo; b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ; d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng; đ) Yêu sách của cải trong kết hôn; e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn; g) Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính; h) Bạo lực gia đình; i) Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi. ​ 3. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp kịp thời ngăn chặn và xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân v

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Nội dung Điều 5 Luật HN-GD 2014

Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 mang tiêu đề “Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình”, gồm hai khoản quy định về nghĩa vụ tôn trọng và trách nhiệm bảo vệ của các chủ thể đối với quan hệ hôn nhân, gia đình.

Khoản 1 Điều 5 quy định: “Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện theo quy định của Luật này được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.” Đây là quy phạm ghi nhận sự bảo hộ của Nhà nước đối với các quan hệ hôn nhân, gia đình hợp pháp. Theo đó, khi quan hệ vợ chồng, cha mẹ - con cái, các thành viên gia đình được xác lập đúng trình tự, thủ tục luật định (kết hôn đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nuôi con nuôi được đăng ký…) thì phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý, được cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân tôn trọng, không ai được xâm phạm. Chẳng hạn, vợ chồng đã đăng ký kết hôn thì có quyền yêu cầu tòa án bảo vệ khi bên thứ ba xâm phạm quan hệ hôn nhân của mình, hoặc khi một bên không thực hiện nghĩa vụ chung thủy, tôn trọng, chăm sóc theo Điều 19 Luật HN-GD 2014.

Khoản 2 Điều 5 quy định trách nhiệm của Nhà nước, xã hội và gia đình: “Các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hôn nhân và gia đình; vận động nhân dân xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình; thực hiện hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; thực hiện kế hoạch hóa gia đình; xây dựng, củng cố và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam.”

Thực tiễn cho thấy quy định này là cơ sở pháp lý để chính quyền địa phương, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên tổ chức tuyên truyền pháp luật, hòa giải mâu thuẫn gia đình, ngăn chặn tảo hôn, hôn nhân cưỡng ép và bạo lực gia đình – những hành vi đi ngược lại mục tiêu bảo vệ chế độ hôn nhân tiến bộ mà Điều 5 hướng tới, đồng thời phù hợp với các nguyên tắc cơ bản tại Điều 2 Luật HN-GD 2014.

2. Phân tích khái niệm và điều kiện pháp lý

Phân tích khái niệm và điều kiện pháp lý

Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (52/2014/QH13) quy định về bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình, theo đó cấm các hành vi: kết hôn giả tạo, tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn; và các hành vi vi phạm khác như ly hôn giả tạo, tranh giành con cái, xúc phạm danh dự nhân phẩm, chiếm đoạt tài sản giữa vợ chồng, cha mẹ con cái. Cơ sở khái niệm này xuất phát từ Điều 3 Luật HN&GĐ 2014, theo đó "hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn", còn "gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng". Điều 5 là chuẩn mực pháp lý nhằm bảo vệ tính tự nguyện, tiến bộ và một vợ một chồng theo Điều 2 Luật HN&GĐ 2014.

Về điều kiện pháp lý, hành vi bị cấm được phân thành nhiều nhóm: nhóm liên quan đến xác lập quan hệ hôn nhân (kết hôn giả tạo, tảo hôn, cưỡng ép, lừa dối, cản trở kết hôn); nhóm liên quan đến chấm dứt hôn nhân (cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn); nhóm xâm phạm quyền nhân thân, tài sản giữa các thành viên gia đình. Ví dụ, nam nữ kết hôn giả tạo để hợp thức hóa việc nhập hộ khẩu hoặc xin visa có thể bị tuyên vô hiệu theo Điều 8 và xử lý theo Điều 47 Nghị định 82/2020/NĐ-CP. Tương tự, cha mẹ cản trở con kết hôn vì lý do tôn giáo, dân tộc là hành vi vi phạm Điều 5, có thể bị xử phạt hành chính. Như vậy, Điều 5 vừa mang tính định hướng đạo đức, vừa có chế tài bảo đảm thực thi.

3. Thực tiễn áp dụng và lưu ý

Trên thực tiễn, Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 được viện dẫn chủ yếu trong hai nhóm tình huống: bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ một chồng và xử lý các hành vi vi phạm nghĩa vụ gia đình. Chẳng hạn, khi giải quyết tranh chấp về việc người đang có vợ hoặc có chồng mà kết hôn với người khác, Tòa án thường dẫn chiếu khoản 1 Điều 5 để xác định hành vi vi phạm, làm căn cứ tuyên bố hôn nhân trái pháp luật hoặc xử lý theo quy định của pháp luật hình sự. Tương tự, trong các vụ án về bạo lực gia đình, hành vi ngược đãi, xúc phạm danh dự, nhân phẩm giữa vợ chồng thường đối chiếu với khoản 2 Điều 5 để khẳng định tính chất vi phạm và làm cơ sở cho yêu cầu ly hôn, bồi thường thiệt hại.

Một điểm đáng lưu ý là các quy định tại Điều 5 mang tính nguyên tắc và định hướng, không phải mọi hành vi bị liệt kê đều đương nhiên phát sinh chế tài riêng. Khi giải quyết vụ việc cụ thể, cơ quan tiến hành tố tụng phải kết hợp với các điều luật khác như Điều 8 (điều kiện kết hôn), Điều 10 (các trường hợp cấm kết hôn), Điều 56 (căn cứ ly hôn) và các văn bản hướng dẫn thi hành, đặc biệt sau khi Luật số 81/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình. Thực tiễn cũng cho thấy việc chứng minh hành vi vi phạm Điều 5 gặp không ít khó khăn, nhất là với các hành vi như "xúc phạm danh dự, nhân phẩm" hay "cưỡng ép kết hôn", bởi đây là những vi phạm thường xảy ra trong quan hệ nội bộ gia đình, ít để lại chứng cứ rõ ràng. Vì vậy, khi áp dụng, cần chú ý đến đặc thù về nhân thân, đời sống riêng tư, đồng thời bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới và quyền con người.

Ngoài ra, cần phân biệt giữa hành vi vi phạm pháp luật hôn nhân và gia đình với các vi phạm khác trong đời sống vợ chồng, tránh lạm dụng Điều 5 để can thiệp quá sâu vào quan hệ riêng tư. Các cơ quan chức năng cũng cần chú ý đến tính đặc thù của đồng bào dân tộc thiểu số, các phong tục tập quán lạc hậu, để vừa bảo vệ pháp luật, vừa tôn trọng bản sắc văn hóa, phù hợp với tinh thần Điều 2 và Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

4. Kết luận

Như vậy, Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (số 52/2014/QH13) đóng vai trò là “điều cấm nền tảng” của cả Chương I, cụ thể hóa những nguyên tắc cơ bản tại Điều 2 thành những hành vi bị pháp luật ngăn cấm, nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình theo định hướng “hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng”. Với 07 khoản, điều luật bao quát các nhóm hành vi nguy hại: kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng khi chưa đủ tuổi, đang có vợ/chồng, bị mất năng lực hành vi dân sự, cùng dòng máu trực hệ hoặc có họ trong phạm vi ba đời, giữa cha mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng (khoản 1–5); cưỡng ép, lừa dối, cản trở kết hôn, ly hôn (khoản 2); và các hành vi bạo lực, ngược đãi, xúc phạm, tranh giành tài sản giữa các thành viên gia đình (khoản 6–7).

Thực tiễn xét xử cho thấy các quy định này được vận dụng trực tiếp: nhiều bản án ly hôn đã tuyên vô hiệu việc kết hôn khi một bên đang có vợ, chồng hợp pháp (khoản 1), hoặc xử lý hình sự về tội loạn luân, tội vi phạm chế độ một vợ một chồng. Ví dụ, trường hợp cha dượng chung sống như vợ chồng với con riêng của vợ bị xử lý theo khoản 3, thể hiện rõ tính nhân văn và đạo đức của điều luật. Tuy nhiên, một số quy định như khoản 6, 7 còn chung, cần hướng dẫn thi hành cụ thể hơn để bảo đảm hiệu quả thực thi.

Về tổng thể, Điều 5 vừa mang tính phòng ngừa, vừa mang tính bảo vệ: phòng ngừa các quan hệ hôn nhân và gia đình trái đạo đức, trái pháp luật; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, con cái và các thành viên gia đình yếu thế. Trong bối cảnh Luật số 81/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều, tinh thần cốt lõi của Điều 5 vẫn giữ nguyên giá trị định hướng. Việc nhận diện đúng nội hàm và giới hạn của điều luật là điều kiện cần để áp dụng đúng pháp luật, góp phần củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam theo Hiến pháp và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (52/2014/QH13) - Điều 5
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.
Cần tư vấn cho trường hợp cụ thể?