Bỏ qua điều hướng
Hỏi Đáp Pháp Luật

Kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định dân sự

Dân sự12/10/2026

Căn cứ, thẩm quyền, thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm và thủ tục xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm.

Tố tụng dân sự & hành chính · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/10

Điều 326. Căn cứ, điều kiện để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm 1. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây: a) Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự; b) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật; c) Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba. 2. Người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 331 của Bộ luật này kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này và có đơn đề nghị theo quy định tại Điều 328 của Bộ luật này hoặc có thông báo, kiến nghị theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 327 của Bộ luật này; trường hợp xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba thì không cần phải có đơn đề nghị.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Khái niệm giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án dân sự

1. Khái niệm giám đốc thẩm vụ án dân sự

Giám đốc thẩm là thủ tục tố tụng đặc biệt, theo đó Tòa án cấp trên xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình giải quyết vụ án, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Khác với phúc thẩm (xét xử lại khi bản án chưa có hiệu lực), giám đốc thẩm chỉ đặt vấn đề khi bản án đã có hiệu lực nhưng chứa đựng sai sót nghiêm trọng về nội dung hoặc tố tụng. Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm được quy định tại Điều 326 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS 2015), gồm: kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án; có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; hoặc có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến kết quả giải quyết không đúng. Thẩm quyền kháng nghị thuộc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp cao (Điều 331 BLTTDS 2015). Thủ tục xét xử giám đốc thẩm được quy định tại Điều 343 BLTTDS 2015, theo đó Hội đồng xét xử giám đốc thẩm không xét xử lại toàn bộ vụ án mà chỉ kiểm tra tính đúng đắn của bản án, quyết định đã có hiệu lực; có thể hủy bản án để xét xử lại hoặc đình chỉ giải quyết vụ án.

2. Khái niệm tái thẩm vụ án dân sự

Tái thẩm là thủ tục tố tụng đặc biệt được áp dụng khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng sau đó phát hiện tình tiết mới quan trọng làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án mà Tòa án không biết được khi ra bản án, quyết định đó. Điều 352 BLTTDS 2015 quy định các căn cứ tái thẩm, bao gồm: phát hiện tình tiết mới có ý nghĩa quyết định đến kết quả giải quyết vụ án; hoặc kết luận giám định, lời dịch, chứng cứ khác được xác định là không đúng sự thật. Khác với giám đốc thẩm (xử lý sai sót chủ quan của Tòa án), tái thẩm xử lý tình huống khách quan phát sinh sau khi bản án có hiệu lực. Chủ thể kháng nghị tái thẩm tương tự giám đốc thẩm theo Điều 354 BLTTDS 2015.

Ví dụ thực tiễn: Bản án sơ thẩm buộc ông A trả nợ cho bà B dựa trên giấy vay. Sau khi bản án có hiệu lực, cơ quan điều tra phát hiện giấy vay bị làm giả. Đây là căn cứ tái thẩm theo Điều 352 BLTTDS 2015, Tòa án cấp cao có thể kháng nghị tái thẩm hủy bản án để giải quyết lại.

3. Phân biệt giám đốc thẩm và tái thẩm

Cả hai thủ tục đều là xét lại bản án đã có hiệu lực, nhưng khác nhau ở căn cứ phát hiện: giám đốc thẩm dựa trên vi phạm pháp luật của Tòa án (Điều 326), tái thẩm dựa trên tình tiết mới hoặc chứng cứ giả (Điều 352). Việc phân biệt đúng đắn giúp chọn đúng thủ tục kháng nghị, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự theo quy định pháp luật.

2. Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm

Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm được quy định tại Điều 326 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Theo đó, bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị khi có một trong các căn cứ: (1) kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; (2) có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; (3) có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật. Đây là ba nhóm căn cứ độc lập, chỉ cần một trong số đó xuất hiện là đủ điều kiện để Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị theo Điều 331.

Về căn cứ thứ nhất, "không phù hợp với tình tiết khách quan" thường biểu hiện ở việc Tòa án đánh giá chứng cứ không đầy đủ, bỏ qua tài liệu quan trọng hoặc nhận định trái với lời khai, giấy tờ đã được thẩm tra. Ví dụ, trong tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm tuyên hợp đồng vô hiệu do chưa thanh toán đủ tiền, nhưng hồ sơ lại có biên nhận thể hiện bên mua đã trả đủ; đây là căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm.

Về căn cứ thứ hai, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng như không triệu tập đương sự hợp lệ, không thu thập chứng cứ theo yêu cầu, vi phạm nguyên tắc Hội đồng xét xử hoặc quyền tranh tụng. Chẳng hạn, cấp sơ thẩm xét xử vắng mặt bị đơn dù đã có yêu cầu hoãn vì lý do khách quan, dẫn đến bản án bị hủy.

Về căn cứ thứ ba, sai lầm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật như áp dụng sai điều khoản, bỏ sót quy định về thời hiệu, hoặc không áp dụng văn bản pháp luật đang có hiệu lực. Khi kháng nghị giám đốc thẩm, Hội đồng xét xử theo Điều 343 có thể hủy bản án, quyết định để xét xử lại hoặc sửa lại cho đúng pháp luật. Việc xác định đúng căn cứ tại Điều 326 là cơ sở quan trọng bảo đảm tính khách quan, công minh của hoạt động tư pháp.

3. Căn cứ kháng nghị tái thẩm

Khác với giám đốc thẩm - xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật vì sai sót về áp dụng pháp luật, đánh giá chứng cứ, tái thẩm là thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật khi có tình tiết mới được phát hiện mà Tòa án không thể biết được khi giải quyết vụ án. Căn cứ kháng nghị tái thẩm được quy định riêng, không đồng nhất với căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm tại Điều 326 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Theo tinh thần Điều 326 và các quy định về tái thẩm, căn cứ kháng nghị tái thẩm bao gồm: (i) mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án; (ii) có cơ sở khẳng định kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch đã có trong hồ sơ vụ án không đúng sự thật hoặc có sai sót; (iii) có cơ sở khẳng định Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án đã cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố ý kết luận trái pháp luật; (iv) có cơ sở khẳng định bản án, quyết định của Tòa án đã bị hủy bỏ do có tình tiết mới được phát hiện. Những căn cứ này được xem xét trong mối liên hệ với Điều 331 (kháng nghị giám đốc thẩm) và Điều 343 (thủ tục xét xử giám đốc thẩm) để xác định thẩm quyền kháng nghị và trình tự giải quyết.

Ví dụ thực tiễn: Trong một vụ tranh chấp quyền sử dụng đất, sau khi bản án có hiệu lực, người dân cung cấp được tài liệu gốc chứng minh người làm chứng chủ chốt đã khai man do bị ép buộc. Đây là tình tiết mới, đủ căn cứ để Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao kháng nghị tái thẩm theo Điều 331. Việc phân định rõ căn cứ kháng nghị giúp tránh nhầm lẫn giữa giám đốc thẩm và tái thẩm, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

4. Người có thẩm quyền kháng nghị

Theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định dân sự được trao cho những chức danh nhất định trong ngành Tòa án và Viện kiểm sát, nhằm bảo đảm cơ chế kiểm soát quyền lực tư pháp và khắc phục sai sót trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

Cụ thể, Điều 331 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định:

  • Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
  • Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
  • Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp dưới trực tiếp.
  • Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp dưới trực tiếp trong phạm vi thẩm quyền của mình.

Bên cạnh đó, Điều 326 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xác định các căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, bao gồm: kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án; có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; hoặc có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật. Điều 343 quy định tại phiên tòa giám đốc thẩm, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm có quyền không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, hoặc chấp nhận một phần, hủy một phần, hủy toàn bộ bản án, quyết định để xét xử lại.

Ví dụ thực tiễn: Trong vụ tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông A và bà B, bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh bị cho là đã bỏ sót chứng cứ quan trọng và áp dụng sai quy định về thời hiệu khởi kiện. Nhận thấy có căn cứ kháng nghị theo Điều 326, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao đã ra quyết định kháng nghị giám đốc thẩm theo thẩm quyền quy định tại Điều 331, đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao xét xử lại vụ án.

Như vậy, việc xác định đúng người có thẩm quyền kháng nghị vừa bảo đảm tính hợp pháp của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, vừa góp phần sửa chữa kịp thời các bản án, quyết định dân sự có sai sót, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

5. Thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm

Thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm là khoảng thời gian luật định mà người có thẩm quyền được phép ra quyết định kháng nghị bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật. Đây là cơ chế hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, khắc phục sai sót trong hoạt động xét xử, nhưng đồng thời cũng bảo đảm tính ổn định, tính bất khả kháng của bản án sau khi đã có hiệu lực. Việc quy định thời hạn kháng nghị chặt chẽ thể hiện sự cân bằng giữa yêu cầu bảo vệ công lý và yêu cầu ổn định trật tự pháp luật, phù hợp với nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Căn cứ theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS), thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm được quy định tại Điều 334: đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện, cấp tỉnh, thời hạn là 03 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; đối với bản án, quyết định của Tòa án nhân dân tối cao, thời hạn là 05 năm. Thời hạn kháng nghị tái thẩm theo Điều 357 là 01 năm kể từ ngày người có thẩm quyền biết được căn cứ tái thẩm quy định tại Điều 352 BLTTDS. Các mốc thời hạn này gắn chặt với căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm (Điều 326: vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, áp dụng sai pháp luật, sai lệch về nội dung vụ án…) và căn cứ tái thẩm (phát hiện tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung bản án).

Ví dụ thực tiễn: Giả sử bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện tuyên buộc A trả B 500 triệu đồng, có hiệu lực từ ngày 01/6/2020. Do phát hiện hợp đồng vay bị làm giả nhưng bị Tòa án bỏ qua, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh ra kháng nghị giám đốc thẩm vào ngày 01/5/2023 (trong thời hạn 03 năm theo Điều 334). Tuy nhiên, nếu kháng nghị ngày 01/7/2023 thì đã hết thời hạn, bản án dù sai cũng không thể bị xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, trừ khi có căn cứ tái thẩm.

Như vậy, thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm theo Điều 334 và Điều 357 BLTTDS là điều kiện tiên quyết để thực hiện quyền kháng nghị tại Điều 331. Quá thời hạn, người có thẩm quyền không được kháng nghị, bảo đảm tính nghiêm minh và hiệu lực ổn định của bản án dân sự.

6. Thủ tục xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm

Thủ tục xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm được quy định tại các điều từ 343 đến 359 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, trong đó Điều 343 là điều luật quan trọng xác định thẩm quyền và cách thức tiến hành phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm. Theo Điều 343, phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm do Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán (đối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp cao) hoặc năm Thẩm phán (đối với Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) tiến hành, với sự tham gia của Viện kiểm sát cùng cấp. Phiên tòa được mở công khai, trừ trường hợp cần giữ bí mật nhà nước hoặc bí mật của đương sự theo quy định.

Trình tự phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm gồm các bước: Chủ tọa phiên tòa đọc quyết định kháng nghị; đại diện Viện kiểm sát trình bày nội dung kháng nghị; các đương sự hoặc người đại diện của họ trình bày ý kiến; Hội đồng xét xử thảo luận và biểu quyết theo đa số. Đối với giám đốc thẩm, Hội đồng xét xử có thể ra một trong các quyết định: không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực; hủy bản án, quyết định để xét xử lại; hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định và đình chỉ giải quyết vụ án. Đối với tái thẩm, Hội đồng xét xử cũng có thẩm quyền tương tự nhưng chỉ áp dụng khi có căn cứ quy định tại Điều 352 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Ví dụ thực tiễn: Năm 2020, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông A và bà B. Sau khi xem xét kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng phát hiện bản án phúc thẩm có vi phạm nghiêm trọng về tố tụng (không triệu tập đầy đủ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan), nên đã hủy bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm để xét xử lại theo thủ tục chung. Quyết định này được ban hành theo Điều 343 và Điều 345 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Như vậy, thủ tục xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm là cơ chế đặc biệt nhằm khắc phục sai sót của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đồng thời bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật. Việc tuân thủ nghiêm ngặt trình tự, thủ tục này góp phần nâng cao chất lượng xét xử và củng cố niềm tin của nhân dân vào công lý.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 - Điều 326 về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm
  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 - Điều 331 về kháng nghị giám đốc thẩm
  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 - Điều 343 về thủ tục xét xử giám đốc thẩm
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.
Cần tư vấn cho trường hợp cụ thể?