Bỏ qua điều hướng
Hỏi Đáp Pháp Luật

Bình luận Điều 39 Luật Đất đai 2024: Quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư sử dụng đất

Đất đai18/10/2026

Phân tích Điều 39 Luật Đất đai 2024 (31/2024/QH15) về quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư sử dụng đất và thực tiễn áp dụng.

Đất đai & nhà ở · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/10

Điều 39. Quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư sử dụng đất 1. Cộng đồng dân cư sử dụng đất có quyền và nghĩa vụ chung quy định tại

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Nội dung Điều 39 Luật Đất đai 2024

Nội dung Điều 39 Luật Đất đai 2024

Điều 39 Luật Đất đai năm 2024 (Luật số 31/2024/QH15) quy định về quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư sử dụng đất. Theo Điều 5 và Điều 39, cộng đồng dân cư gồm cộng đồng dân cư thôn, ấp, bản, buôn, phum, sóc và cộng đồng dân cư khác theo quy định của Chính phủ; đây là một trong các nhóm người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất.

Về quyền, cộng đồng dân cư được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất mà cộng đồng đang sử dụng ổn định, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận; được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất; được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Mục 6 Chương VI; được tham gia ý kiến đối với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và các dự án có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của cộng đồng. Đồng thời, cộng đồng dân cư có nghĩa vụ sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, bảo vệ đất, bảo vệ môi trường; tuân theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; thực hiện nghĩa vụ tài chính và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật; không được chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất cộng đồng (Điều 49 Luật Đất đai 2024).

Ví dụ thực tiễn: một thôn vùng cao đã sử dụng ổn định quỹ đất rừng cộng đồng từ nhiều thập kỷ để canh tác, chăn nuôi và bảo vệ rừng; khi địa phương lập quy hoạch sử dụng đất, cộng đồng dân cư thôn cần được lấy ý kiến và được ghi nhận quyền sử dụng đất. Nếu Nhà nước thu hồi một phần diện tích để làm đường giao thông, cộng đồng được bồi thường, hỗ trợ theo Mục 6 Chương VI. Quy định tại Điều 39 góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cộng đồng, đồng thời gắn trách nhiệm bảo vệ đất đai, môi trường với cộng đồng dân cư, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội và ổn định đời sống cộng đồng.

2. Phân tích khái niệm và điều kiện pháp lý

1. Khái niệm cộng đồng dân cư sử dụng đất

Theo khoản 1 Điều 39 Luật Đất đai 2024, cộng đồng dân cư sử dụng đất là "cộng đồng dân cư thôn, buôn, xóm, làng, ấp, bản, sóc hoặc đơn vị tương đương" được Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất. Đây là chủ thể đặc thù, không phải cá nhân hay pháp nhân thông thường, mà là tập thể các hộ gia đình cùng sinh sống trên một địa bàn, gắn bó với nhau bởi quan hệ cộng đồng, có truyền thống, phong tục và cùng quản lý, sử dụng một diện tích đất chung. Khái niệm này kế thừa quy định tại Luật Đất đai 2013 nhưng được hoàn thiện hơn về cách xác định chủ thể và cơ chế đại diện.

2. Điều kiện pháp lý để cộng đồng dân cư có quyền sử dụng đất

Điều 39 và các điều luật liên quan xác lập ba nhóm điều kiện. Thứ nhất, về nguồn gốc xác lập quyền: cộng đồng phải được Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Thứ hai, về mục đích sử dụng: đất được giao phải phục vụ lợi ích chung của cộng đồng như đất ở, đất nông nghiệp, đất rừng phòng hộ, đất cơ sở tôn giáo, đất tín ngưỡng tại địa phương. Thứ ba, về chủ thể đại diện: cộng đồng dân cư thực hiện quyền và nghĩa vụ thông qua người đại diện được cộng đồng bầu hoặc thông qua Trưởng thôn, Trưởng bản theo quy định tại khoản 2 Điều 39, đồng thời việc sử dụng đất phải tuân thủ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và không được chuyển nhượng, thế chấp trái pháp luật.

3. Ví dụ thực tiễn

Chẳng hạn, đất rừng phòng hộ đầu nguồn tại một bản vùng cao được Nhà nước giao cho cộng đồng dân cư quản lý, bảo vệ. Cộng đồng được hưởng lợi từ khai thác lâm sản phụ phục vụ sinh hoạt, nhưng không được chuyển mục đích sử dụng sang đất ở hay xây dựng công trình trái phép. Nếu Trưởng bản tự ý giao khoán đất cho người ngoài, giao dịch đó vô hiệu vì không đúng thẩm quyền đại diện và mục đích sử dụng đất.

3. Thực tiễn áp dụng và lưu ý

Trên thực tiễn, các quyền của cộng đồng dân cư theo Điều 39 Luật Đất đai 2024 chủ yếu được thực hiện thông qua cơ chế dân chủ ở cơ sở và sự tham gia của cộng đồng vào các quyết định liên quan đến đất đai. Ví dụ, khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án, Luật yêu cầu lấy ý kiến cộng đồng dân cư về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; tại nhiều địa phương, việc tổ chức họp thôn, công khai phương án đã giúp giảm khiếu nại liên quan đến giá đền bù. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn tình trạng hình thức hóa việc lấy ý kiến, thiếu công khai tài liệu, hoặc cộng đồng chưa được tham vấn kịp thời trong các dự án xây dựng hạ tầng, khu công nghiệp.

Một số lưu ý quan trọng: Thứ nhất, cần bảo đảm việc lấy ý kiến theo Điều 39 gắn với quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn để không chỉ hình thức. Thứ hai, cộng đồng dân cư chỉ thực hiện các quyền trong phạm vi thẩm quyền; không được cản trở dự án hợp pháp, đồng thời phải tuân thủ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt (Điều 39 khoản 2). Thứ ba, khi cộng đồng phát hiện sai phạm như sử dụng đất không đúng mục đích, ô nhiễm đất, cần kiến nghị bằng văn bản đến UBND cấp xã hoặc cơ quan tài nguyên và môi trường, tránh tự phát ngăn cản thi công gây vi phạm pháp luật.

Ngoài ra, các địa phương cần công khai, minh bạch quy hoạch, bản đồ địa chính và phương án bồi thường để cộng đồng tiếp cận thông tin; đồng thời tăng cường giám sát của HĐND, Mặt trận Tổ quốc và thanh tra nhân dân. Như vậy, quyền của cộng đồng theo Điều 39 mới thực sự đi vào đời sống, góp phần quản lý đất đai hiệu quả và hạn chế tranh chấp đất đai.

4. Kết luận

Kết luận

Điều 39 Luật Đất đai 2024 (số 31/2024/QH15) đã thể chế hóa quan điểm của Hiến pháp về đất đai thuộc sở hữu toàn dân, đồng thời cụ thể hóa vị thế của cộng đồng dân cư trong quan hệ pháp luật đất đai. Việc ghi nhận cộng đồng dân cư là chủ thể có quyền và nghĩa vụ sử dụng đất, bên cạnh các chủ thể truyền thống như cá nhân, hộ gia đình, tổ chức, đã khẳng định tính đa dạng của các hình thức sử dụng đất và tôn trọng vai trò của cộng đồng trong quản lý, bảo vệ và khai thác tài nguyên đất. Các quyền cơ bản gồm quyền được Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với đất do cộng đồng quản lý, quyền hưởng thành quả lao động, đầu tư trên đất, quyền tham gia ý kiến đối với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và các dự án có ảnh hưởng đến cộng đồng; đi kèm là nghĩa vụ sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, bảo vệ đất, bảo vệ môi trường và tuân thủ pháp luật.

Thực tiễn cho thấy nhiều địa phương đã phát huy tốt quyền của cộng đồng, ví dụ tại các xã vùng cao, đất rừng cộng đồng được giao cho cộng đồng dân cư thôn quản lý, bảo vệ và hưởng lợi từ lâm sản phụ theo quy định; hay việc lấy ý kiến nhân dân đối với phương án quy hoạch sử dụng đất cấp xã đã bước đầu tăng tính minh bạch, giảm tranh chấp. Tuy vậy, vẫn còn không ít khó khăn: nhận thức pháp luật của một bộ phận người dân còn hạn chế, một số cộng đồng chưa có tư cách pháp lý rõ ràng để đứng tên trên giấy chứng nhận, tình trạng lấn chiếm, sử dụng đất cộng đồng sai mục đích vẫn diễn ra ở nhiều nơi.

Để Điều 39 đi vào cuộc sống, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật; hướng dẫn cụ thể thủ tục giao đất, công nhận quyền sử dụng đất cho cộng đồng dân cư; tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm; đồng thời bảo đảm cộng đồng thực sự được tham gia vào quá trình quy hoạch, quản lý và sử dụng đất. Có như vậy, quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư sử dụng đất theo Điều 39 mới được thực thi đầy đủ, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai và ổn định đời sống xã hội.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Luật Đất đai 2024 (31/2024/QH15) - Điều 39
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.
Cần tư vấn cho trường hợp cụ thể?